Trang 101 — Thực hành tiếng Việt
Câu 1. Trong vở kịch Người lái buôn thành Vo-ni-do-ro (Sếch-xpia), nhân vật Sai-lộc cho An-tô-ni-ô vay 3 000 duy-ca không tính lãi với điều kiện: Sau ba tháng, nếu người vay không hoàn trả số tiền đúng ngày và nơi quy định thì người cho vay sẽ được quyền lấy một cặn thịt trên cơ thể người vay. Theo em, giao ước ấy mặc lỗi gì khi khiến Sai-lộc phải chịu thua trước lập luận sắc bén của Poóc-xi-a?
Trả lời: Giao ước giữa Sai-lộc và An-tô-ni-ô trong vở kịch Người lái buôn thành Vo-ni-do-ro của Sếch-xpia có điều kiện rằng nếu An-tô-ni-ô không trả tiền đúng hạn, Sai-lộc có quyền lấy một cặn thịt trên cơ thể người vay.
Lỗi ở giao ước này là nó không quy định rõ ràng cặn thịt là phần nào trên cơ thể, điều này tạo ra sự mơ hồ và nhập nhằng.
Khi Poóc-xi-a (đại diện pháp lý cho An-tô-ni-ô) đưa vấn đề này ra xét xử, bà đã khéo léo áp dụng luật Ven-i-sơ rằng "máu của người Do Thái cũng chảy như máu của người Ki-tô giáo" và không cho phép lấy một giọt máu của An-tô-ni-ô. Vì cặn thịt có thể hiểu là một phần rất nhỏ của cơ thể và máu là thành phần không thể tách rời của cơ thể, nên Sai-lộc không thể thực hiện giao ước mà không vi phạm luật.
Điều này dẫn đến việc Sai-lộc bị thua kiện trước lập luận sắc bén của Poóc-xi-a.
Câu 2. Những câu dưới đây mắc lỗi gì? Hãy phân tích nguyên nhân mắc lỗi và sửa những lỗi đó.
a) Anh ta mở khóa, ngồi vào ghế, khởi động xe, mở cửa và lên đường.
Trả lời: Câu "Anh ta mở khóa, ngồi vào ghế, khởi động xe, mở cửa và lên đường." mắc lỗi về trình tự logic của các hành động.
Phân tích:
- Mở khóa là hành động đầu tiên để vào xe.
- Ngồi vào ghế là bước tiếp theo.
- Khởi động xe thường diễn ra sau khi đã vào ghế và đóng cửa.
- Mở cửa thường là bước sau khi đã khởi động xe và chuẩn bị rời đi.
Sửa: "Anh ta mở khóa, vào xe, ngồi vào ghế, đóng cửa, khởi động xe, mở cửa và lên đường."
b) Tìm thêm những ví dụ trong thơ của Hồ Xuân Hương, "Truyện Kiều", Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan,... để chứng minh rằng tiếng Việt thế kỉ XVI đã đạt tới độ tinh tế, uyển chuyển.
Trả lời: Câu này mắc lỗi về cách diễn đạt không rõ ràng và thiếu chính xác.
Phân tích:
- Cụm từ "thế kỉ XVI" không phù hợp vì thơ của Hồ Xuân Hương, "Truyện Kiều" của Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan chủ yếu thuộc về thế kỉ XVIII và XIX.
Sửa: "Tìm thêm những ví dụ trong thơ của Hồ Xuân Hương, Truyện Kiều của Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan,... để chứng minh rằng tiếng Việt ở thời kì này đã đạt tới độ tinh tế, uyển chuyển."
c) Ngồi đây suốt buổi sáng mà tôi chỉ câu được vỏ sò con cá chép, thật phí công.
Trả lời: Câu "Ngồi đây suốt buổi sáng mà tôi chỉ câu được vỏ sò con cá chép, thật phí công." mắc lỗi về việc sử dụng từ ngữ không chính xác.
Phân tích:
- Từ "vỏ sò" không phù hợp vì "vỏ sò" là vỏ của con sò, không phải kết quả của việc câu cá.
Sửa: "Ngồi đây suốt buổi sáng mà tôi chỉ câu được vài con cá chép, thật phí công." hoặc "Ngồi đây suốt buổi sáng mà tôi chỉ nhặt được vài vỏ sò, thật phí công."
d) Từ trong tù, U-thất tiếp tục kêu vô tội. Vậy, ai đã nói dối? Kẻ nào đã bỏ thuốc độc vào chén trà của hoàng thân? Khi tất cả vụ việc này kết thúc, Cha-la-sai tuyên bố sẽ kết hôn với chàng U-thất của mình. (Dẫn theo Nguyễn Minh Thuý, Nguyễn Văn Hiệp)
Trả lời: Câu này mắc lỗi về sử dụng dấu ngoặc kép và trích dẫn không chính xác.
Phân tích:
- Cụm "Từ trong tù, U-thất tiếp tục kêu vô tội. Vậy, ai đã nói dối? Kẻ nào đã bỏ thuốc độc vào chén trà của hoàng thân?" nên được đặt trong dấu ngoặc kép để nhấn mạnh đây là lời nói của nhân vật.
Sửa: "Từ trong tù, U-thất tiếp tục kêu vô tội." Vậy ai đã nói dối? Kẻ nào đã bỏ thuốc độc vào chén trà của hoàng thân? Khi tất cả vụ việc này kết thúc, Cha-la-sai tuyên bố sẽ kết hôn với chàng U-thất của mình. (Dẫn theo Nguyễn Minh Thuý, Nguyễn Văn Hiệp)
Hoặc:
"Từ trong tù, U-thất tiếp tục kêu vô tội" - vậy ai đã nói dối? "Kẻ nào đã bỏ thuốc độc vào chén trà của hoàng thân?" Khi tất cả vụ việc này kết thúc, Cha-la-sai tuyên bố sẽ kết hôn với chàng U-thất của mình. (Dẫn theo Nguyễn Minh Thuý, Nguyễn Văn Hiệp)
Trang 102 — Viết báo cáo kết quả của bài tập dự án
Câu 3. Phân tích tính mơ hồ của những câu dưới đây. Hãy viết lại để mỗi câu chỉ có một cách hiểu.
a) Đây là dung dịch độc nhất.
Trả lời:
- Tính mơ hồ: Câu này có thể gây hiểu nhầm về việc "dung dịch độc nhất" có nghĩa là chỉ có một loại dung dịch hoặc là dung dịch độc đáo nhất.
- Viết lại:
- Đây là một dung dịch độc.
- Hoặc: Đây là dung dịch độc đáo nhất.
b) Áp dụng phương pháp học tập mới là quan trọng.
Trả lời:
- Tính mơ hồ: Câu này có thể hiểu là việc áp dụng phương pháp học tập mới quan trọng, hoặc chính phương pháp học tập mới quan trọng.
- Viết lại:
- Việc áp dụng phương pháp học tập mới là rất quan trọng.
- Hoặc: Phương pháp học tập mới rất quan trọng.
c) Cả nhà hát say sưa theo ca sĩ.
Trả lời:
- Tính mơ hồ: Câu này có thể hiểu là mọi người trong nhà hát say sưa theo dõi ca sĩ biểu diễn hoặc cả nhà hát và ca sĩ cùng say sưa.
- Viết lại:
- Mọi người trong nhà hát say sưa theo dõi ca sĩ biểu diễn.
- Hoặc: Cả nhà hát và ca sĩ đều say sưa trong buổi biểu diễn.
d) Trong trận đấu bóng, hàng trăm người xem đánh nhau.
Trả lời:
- Tính mơ hồ: Câu này có thể hiểu là hàng trăm người xem trong trận đấu bóng đánh nhau hoặc chính trong trận đấu bóng có hành động đánh nhau giữa các cầu thủ và khán giả.
- Viết lại:
- Trong trận đấu bóng, có hàng trăm người xem đánh nhau.
- Hoặc: Trong trận đấu bóng, xảy ra tình trạng đánh nhau giữa hàng trăm người xem.
Câu 4. Khảo sát và viết báo cáo kết quả khảo sát về lỗi lô gích và lỗi diễn đạt mơ hồ trên một hoặc một số trang báo điện tử.
Trả lời:
Bước 1: Khảo sát
- Lựa chọn một hoặc một số trang báo điện tử.
- Đọc kỹ các bài viết, tin tức trên trang báo.
- Ghi lại các lỗi lô gích và diễn đạt mơ hồ.
Bước 2: Phân tích và viết báo cáo
- Thống kê số lượng lỗi lô gích và diễn đạt mơ hồ.
- Phân tích nguyên nhân và tác động của các lỗi.
- Đề xuất cách khắc phục.
Bước 3: Trình bày báo cáo
- Kết cấu báo cáo rõ ràng: mở đầu, nội dung chính, kết luận.
- Sử dụng biểu đồ, bảng biểu nếu cần.
Ví dụ: "Theo khảo sát trên trang báo VnExpress, chúng tôi phát hiện nhiều lỗi diễn đạt mơ hồ như: [...].
Nguyên nhân chính là do cách dùng từ chưa chính xác, câu trúc câu chưa rõ ràng.
Để khắc phục, cần chú ý sử dụng ngôn ngữ chính xác và kiểm tra kỹ lưỡng trước khi đăng tải."
Trang 103 — Báo cáo kết quả bài tập dự án
Câu hỏi:
- Báo cáo kết quả dự án gồm những nội dung nào? Nội dung nào là nội dung chính?
- Kết quả của bài tập dự án được thể hiện qua những đề mục nào?
- Việc đưa vào báo cáo các hình ảnh và thuyết minh hình ảnh nhằm mục đích gì?
1.2. Để viết báo cáo kết quả của bài tập dự án, các em cần lưu ý:
- Xem lại yêu cầu viết báo cáo ở mục 1. Định hướng.
- Tập hợp thông tin về kết quả thực hiện dự án từ các thành viên đã tham gia làm bài tập dự án.
- Xây dựng dàn ý (đề cương) của báo cáo kết quả bài tập dự án. Dàn ý của bài báo cáo có thể trình bày như ví dụ minh họa trên đây, cũng có thể có cách trình bày khác, nhưng cần làm nổi bật được kết quả thực hiện các nhiệm vụ trong dự án.
- Viết báo cáo kết quả của bài tập dự án theo dàn ý (đề cương) đã lập và kiểm tra, hoàn thiện báo cáo.
Câu 1.
- Báo cáo kết quả dự án gồm những nội dung nào? Nội dung nào là nội dung chính?
Trả lời: Báo cáo kết quả dự án gồm các nội dung:
Mục tiêu của dự án
Nội dung của dự án
Kết quả của dự án
- 3.1. Sản phẩm 1:
- Số lượng tài liệu: ...
- Nội dung của sản phẩm:
- Minh họa cụ thể:
- Tự đánh giá sản phẩm (về số lượng, chất lượng so với yêu cầu của bài tập dự án).
- 3.2. Sản phẩm 2: ...
- 3.1. Sản phẩm 1:
Tự đánh giá và kiến nghị
Nội dung chính của báo cáo là "3. Kết quả của dự án", vì đây là phần trình bày cụ thể và chi tiết về các sản phẩm mà dự án đã đạt được.
Câu 2.
- Kết quả của bài tập dự án được thể hiện qua những đề mục nào?
Trả lời: Kết quả của bài tập dự án được thể hiện qua các đề mục:
- 3.1. Sản phẩm 1:
- Số lượng tài liệu
- Nội dung của sản phẩm
- Minh họa cụ thể
- Tự đánh giá sản phẩm
- 3.2. Sản phẩm 2: ...
Câu 3.
- Việc đưa vào báo cáo các hình ảnh và thuyết minh hình ảnh nhằm mục đích gì?
Trả lời: Việc đưa vào báo cáo các hình ảnh và thuyết minh hình ảnh nhằm mục đích minh họa cụ thể cho các sản phẩm của dự án, giúp người đọc trực quan hóa kết quả và hiểu rõ hơn về nội dung đã thực hiện. Điều này hỗ trợ việc đánh giá và ghi nhận kết quả dự án một cách rõ ràng và thuyết phục hơn.