Trang 136 — VĂN NGHỊ LUẬN

YÊU CẦU CẦN ĐẠT

  • Nhận biết, phân tích được nội dung và vai trò của các luận điểm, lí lẽ, bằng chứng tiêu biểu, độc đáo; mục đích, tình cảm và quan điểm của người viết; mức độ phù hợp giữa nội dung nghị luận với nhan đề của văn bản; các biện pháp làm tăng tính khẳng định, phủ định; cách lập luận và ngôn ngữ biểu cảm trong văn bản nghị luận.
  • Biết tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ trong học tập và nghiên cứu.
  • Viết được bài nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ.
  • Nghe và nắm bắt được nội dung, quan điểm của bài thuyết trình. Đặt được câu hỏi về những điểm cần làm rõ và trao đổi về những điểm có ý kiến khác biệt.
  • Biết quý trọng và phát huy truyền thống yêu nước, khát vọng tự do của dân tộc; hiểu đúng giá trị và tác dụng của văn học đối với đời sống tâm hồn con người;...

KIẾN THỨC NGỮ VĂN

1. Tính khẳng định, phủ định trong văn nghị luận

Văn nghị luận thể hiện rất rõ thái độ, nhận thức, lập trường và quan điểm của người viết. Trước vấn đề nêu lên để bàn luận, người viết cần bày tỏ ý kiến, khẳng định cái đúng, cái tốt; bác bỏ, phê phán cái sai, cái xấu,... Vì thế, ngôn ngữ văn nghị luận thường dùng các từ, các câu khẳng định, phủ định nhằm tạo cho bài văn một âm hưởng, giọng điệu mạnh mẽ, kiên quyết, hào sáng,... Ví dụ rõ nhất có thể thấy trong các văn bản nghị luận trung học như Chiếu dời đô (Lý Công Uẩn), Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn), Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi),... hoặc các áng văn nghị luận hiện đại sau này của Hồ Chí Minh như Tuyên ngôn Độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến,... Tính khẳng định và phủ định không chỉ có trong văn nghị luận xã hội mà trong cả văn nghị luận văn học. Ví dụ, trong đoạn văn sau đây, tác giả đã sử dụng hàng loạt từ và câu khẳng định, phủ định để làm rõ vai trò của văn học:


(Không xác định)

Câu 1. "Con người không phải lúc nào cũng làm chủ được bản thân mình. Và chẳng hiểu được bản thân mình không phải là dễ. Văn học có tác dụng to lớn và sâu sắc giúp cho con người hiểu được chính mình. Khoa học khai hoa nhận thức về tự nhiên, về xã hội và con người nói chung. Nhưng trong đời sống tâm hồn và tâm lí của con người ngày càng trở nên phức tạp có những mảng, những lớp che giấu sâu, những uẩn khúc chỉ có văn học và nghệ thuật mới soi thấu chuẩn bị cho sự tự thức. Trái tim của con người có những lí riêng mà lí trí của khoa học khó nắm bắt."

  • Trả lời:
    • Đoạn văn nhấn mạnh vai trò của văn học trong việc giúp con người hiểu bản thân mình.
    • Khoa học giúp con người hiểu về tự nhiên, xã hội và con người, nhưng không thể thay thế văn học trong việc khám phá những "mảng", "lớp che giấu sâu" và "uẩn khúc" trong tâm hồn con người.

Câu 2. Lập luận và ngôn ngữ biểu cảm trong văn nghị luận

  • 2.1. Lập luận là cách thức trình bày và triển khai luận điểm; cách nêu vấn đề và giải quyết vấn đề; cách dùng những lí lẽ và dẫn chứng; cách sử dụng các thao tác như phân tích, giải thích, chứng minh, so sánh, đối chiếu,.. để làm sáng tỏ điều tác giả muốn nói, để người đọc hiểu, tin và đồng tình với mình.

  • Trả lời:

    • Lập luận là cách thức trình bày và triển khai luận điểm; cách nêu vấn đề và giải quyết vấn đề; cách dùng những lí lẽ và dẫn chứng; cách sử dụng các thao tác như phân tích, giải thích, chứng minh, so sánh, đối chiếu,.. để làm sáng tỏ điều tác giả muốn nói, để người đọc hiểu, tin và đồng tình với mình.
  • 2.2. Trong lập luận, người viết thường sử dụng nhiều từ ngữ (kết từ, tình thái từ) nhằm nhấn mạnh, tạo nên giọng văn giàu màu sắc biểu cảm. Ví dụ, đọc đoạn văn sau và chú ý các từ in đậm để thấy cách lập luận và màu sắc biểu cảm của văn nghị luận:

    "Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tức giận khi giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không "bảo hổ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.

    Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết một số đồng từ chí ở Yên Bái và Cao Bằng."

  • Trả lời:

    • Trong đoạn văn, người viết sử dụng từ ngữ biểu cảm như: "tức giận", "bỏ chạy", "đầu hàng", "bảo hổ", "thẳng tay khủng bố", "nhẫn tâm giết" để tạo nên giọng văn giàu màu sắc biểu cảm và nhấn mạnh ý.

Câu 3. Tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ

  • 3.1. Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm: quyền tác giả (quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu); quyền liên quan đến quyền tác giả (quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá); quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.

  • Trả lời:

    • Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm các quyền như: quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
  • 3.2. Quyền sở hữu trí tuệ được Nhà nước Việt Nam và các điều ước quốc tế bảo hộ bằng pháp luật nhằm khuyến khích, thúc đẩy hoạt động sáng tạo, khai thác tài sản trí tuệ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của con người.

  • Trả lời:

    • Quyền sở hữu trí tuệ được Nhà nước Việt Nam và các điều ước quốc tế bảo hộ bằng pháp luật nhằm khuyến khích, thúc đẩy hoạt động sáng tạo, khai thác tài sản trí tuệ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của con người.

Trang 140 — Văn học và tác dụng chiếu sâu trong việc xây dựng nhân cách văn hóa con người

Câu 1. Chuẩn bị

  • Xem lại phần Kiến thức ngữ văn để vận dụng vào đọc hiểu văn bản này.
  • Khi đọc văn bản nghị luận, các em cần chú ý:
    • Mục đích của người viết là gì? Nhan đề của văn bản có liên quan gì đến nội dung nghị luận?
    • Vấn đề trọng tâm của văn bản (luận đề) là gì? Có thể tìm luận đề ấy ở phần nào?
    • Luận đề của văn bản được triển khai bằng các luận điểm, lí lẽ và dẫn chứng như thế nào?
    • Các biện pháp nào làm tăng tính khẳng định, phủ định; cách lập luận và ngôn ngữ biểu cảm trong văn bản nghị luận được thể hiện như thế nào trong văn bản?
  • Đọc trước toàn bộ văn bản và tìm hiểu thêm về tác giả Hoàng Ngọc Hiển.

Trả lời: Các bước chuẩn bị để đọc hiểu văn bản "Văn học và tác dụng chiếu sâu trong việc xây dựng nhân cách văn hóa con người" bao gồm:

  1. Xem lại phần Kiến thức ngữ văn: Áp dụng những kiến thức đã học về văn bản nghị luận để hiểu rõ hơn nội dung.
  2. Xác định mục đích và nhan đề:
    • Mục đích của người viết: Nằm ở phần mở đầu, giúp người đọc hiểu rõ văn bản đang bàn luận về vấn đề gì.
    • Nhan đề: “Văn học và tác dụng chiếu sâu trong việc xây dựng nhân cách văn hóa con người” → Liên quan trực tiếp đến nội dung nghị luận, nhấn mạnh vai trò của văn học.
  3. Vấn đề trọng tâm (luận đề):
    • Thường xuất hiện ở phần mở đầu hoặc kết luận, nêu rõ vấn đề chính.
    • Cần xác định luận đề ở những câu mở đầu hoặc kết thúc phần giới thiệu.
  4. Luận đề được triển khai:
    • Luận điểm: Các ý chính được tác giả nêu ra để làm sáng tỏ luận đề.
    • Lí lẽ: Những giải thích, phân tích hỗ trợ cho luận điểm.
    • Dẫn chứng: Các ví dụ cụ thể, làm bằng chứng cho lí lẽ.
  5. Biện pháp tăng tính khẳng định, phủ định:
    • Khẳng định: Sử dụng các từ như “chắc chắn,” “đúng đắn,” “không thể phủ nhận.”
    • Phủ định: Dùng từ như “không,” “chẳng hạn,” “không còn.”
  6. Đọc trước văn bản và tìm hiểu tác giả Hoàng Ngọc Hiển:
    • Tìm hiểu tiểu sử, phong cách viết, quan điểm văn học của tác giả để hiểu rõ hơn văn bản.

Trang 139 — Đọc hiểu

Câu 1. Trước khi bàn về tác dụng chiều sâu của văn học trong xây dựng nhân cách văn hoá, tôi muốn nêu mấy suy nghĩ về vị thế của văn học đương đại có nguy cơ bị nghiêng ngả và có chiều sút kém trong đời sống văn hoá hiện đại. Văn học trước hết là sách, là hình ảnh ngôn từ, là ngôn từ mực đen trên giấy trắng. Mấy thập kỉ nay, văn học phải cạnh tranh với một đối thủ ghẻ lở gồm mà sự lớn mạnh ngày càng hùng hậu, càng tăng sức ép đáo: đó là truyền hình. Ở những nước công nghiệp phát triển, những người viết sách (trong đó có nhà văn) tố bị quan trước sự "bành trướng" của truyền hình. [...]

Trả lời:

  • Nội dung chính mà tác giả nêu lên ở phần mở đầu là bàn về vị thế của văn học trong thời đại hiện nay.

Câu 2. Vấn đề chính mà tác giả nêu lên ở phần mở đầu là gì?

Trả lời: Vấn đề chính mà tác giả nêu lên ở phần mở đầu là:

  • Vị thế của văn học đương đại có nguy cơ bị nghiêng ngả và có chiều sút kém trong đời sống văn hóa hiện đại do sự phát triển của truyền hình.

Câu 3. Sự khác khoá nhau giữa xem truyền hình và đọc sách.

Trả lời:

  • Sự khác nhau giữa xem truyền hình và đọc sách:
    • Phương tiện của truyền hình (và cả video nữa) là hình ảnh nghe nhìn, ưu thế của hình ảnh nghe nhìn là hấp dẫn và dễ tiếp nhận, không đòi hỏi nỗ lực tích cực của trí tuệ để tiếp nhận. Buồn ngủ rũ rượi ta vẫn có thể ngồi xem "ti vi". Đọc sách thì rất khác. Phải có nỗ lực của trí tuệ - nhiều khi phải đọc đi đọc lại, phải ngẫm nghĩ - thì mới tiếp thu được. Ấn tượng của hình ảnh ngôn từ bên trong sâu hơn ấn tượng của hình ảnh nghe nhìn vì nó kích thích và đòi hỏi nỗ lực tích cực của trí tuệ.

Câu 4. Tác dụng của sách như thế nào?

Trả lời:

  • Tác dụng của sách:
    • Không phải hình ảnh nghe nhìn mà chữ và ngôn từ mới tạo ra cái cốt vụng chai cho trí tuệ. Và chẳng có nỗi như Mai-a-cốp-xki (Mayakovsky) đã từng nói: "Trong tim, trong óc của con người, có những chỗ bất cập đối với hình ảnh nghe nhìn, chỉ có thơ (tức là ngôn từ cao cấp) mới len vào được, chỉ có thể len được vào bằng thơ. [...]