Trang 149 — Lồng Chưng
Câu 1. Xác định tình huống gây cười trong đoạn trích Giấu của.
Trả lời: Tình huống gây cười trong đoạn trích Giấu của là việc ông bà Đại Cát che giấu tài sản, sợ con gái và con rể biết, trong khi đôi bên đều biết và cùng có suy nghĩ phải bảo vệ tài sản của gia đình mình. Tình huống này được thể hiện qua các chi tiết như ông bà Đại Cát giấu vàng, sợ bị phát hiện; con gái và con rể cũng có kế hoạch riêng để bảo vệ tài sản.
Câu 2. Phân tích tính trào phúng trong ngôn ngữ đối thoại của hai nhân vật.
Trả lời: Tính trào phúng trong ngôn ngữ đối thoại của hai nhân vật ông bà Đại Cát được thể hiện qua việc sử dụng ngôn ngữ mâu thuẫn và kín đáo. Ví dụ, ông Đại Cát dặn dò bà Đại Cát: "Chỉ được để lộ ra một mặt, một mặt giấu kín". Bà Đại Cát cũng hiểu ngầm và đối thoại một cách tế nhị: "Mặt khác thì chưa biết". Qua đó, tác giả thể hiện sự kín đáo và mâu thuẫn trong suy nghĩ của hai nhân vật.
Câu 3. Theo bạn, trạng thái "quản" của hai nhân vật ông Đại Cát và bà Đại Cát được thể hiện qua những lời nói, cử chỉ và hành động nào?
Trả lời: Trạng thái "quản" của hai nhân vật ông Đại Cát và bà Đại Cát được thể hiện qua những lời nói, cử chỉ và hành động như việc giấu tài sản, lo lắng bị phát hiện, và sự kín đáo trong giao tiếp. Ví dụ, ông Đại Cát nói: "Cái mặt phải được, còn cái bụng thì mặc kệ nó". Bà Đại Cát cũng đồng tình và thực hiện theo, thể hiện sự đồng cảm và cùng quan điểm.
Câu 4. Việc lặp đi lặp lại chi tiết về những tấm ảnh trong lời chị dấn sân khấu ở phần đầu và phần cuối đoạn trích gợi cho bạn suy nghĩ gì?
Trả lời: Việc lặp đi lặp lại chi tiết về những tấm ảnh trong lời chị dấn sân khấu ở phần đầu và phần cuối đoạn trích gợi cho người đọc suy nghĩ về tính vòng lặp và sự kín đáo trong suy nghĩ của con người. Những tấm ảnh như một biểu tượng của việc che giấu và bảo vệ tài sản, đồng thời cũng thể hiện sự lặp lại của thói quen và suy nghĩ trong đời sống.
Trang 150 — Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên, xã hội
5. Bạn thấy hai nhân vật “đáng cười” trong đoạn trích này đáng ghét hay đáng thương? Tại sao?
Trả lời: Trong đoạn trích, hai nhân vật được coi là "đáng cười" là người cha và người con. Họ đáng thương hơn là đáng ghét.
Người cha vì quá yêu thương con mà mù quáng tin tưởng vào con, dù con đã có những hành vi không đúng đắn. Điều này thể hiện qua cách ông xử lý tình huống khi con mắc lỗi, cho thấy sự nuông chiều và thiếu tính quyết đoán.
Người con thì thể hiện sự vô ơn và ích kỷ khi lợi dụng sự yêu thương của cha để làm những điều sai trái.
Tình huống này gợi lên sự đáng thương vì cả hai nhân vật đều thiếu sự tỉnh táo và dẫn đến hậu quả không mong muốn.
6. Hãy chỉ ra xung đột giữa thực tế và lí tưởng được thể hiện trong đoạn trích.
Trả lời: Xung đột giữa thực tế và lí tưởng trong đoạn trích thể hiện qua sự khác biệt giữa suy nghĩ và hành động của các nhân vật.
Thực tế cho thấy, người con đã không thực hiện đúng đắn như những gì người cha mong muốn. Trong khi đó, lí tưởng của người cha là được sống bên con, nhưng thực tế lại không đạt được.
7. Nếu là đạo diễn dàn dựng đoạn trích này trên sân khấu, bạn sẽ lưu ý diễn viên những điểm gì?
Trả lời: Nếu là đạo diễn dàn dựng đoạn trích này trên sân khấu, tôi sẽ lưu ý diễn viên cần thể hiện rõ sự yêu thương, nuối tiếc và cả sự thất vọng trong diễn xuất.
Cần nhấn mạnh sự hài hước và cảm xúc qua từng cử chỉ, lời nói của nhân vật.
Ngoài ra, cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các diễn viên để thể hiện tình cảm gia đình một cách chân thực.
Kết nối đọc - viết
Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích một chi tiết hài hước trong đoạn trích Giấu của.
Trả lời: Một chi tiết hài hước trong đoạn trích là tình huống người con xử lý tình huống khi bị phát hiện.
Chi tiết này không chỉ thể hiện sự lúng túng, mà còn là sự vô lý trong cách giải quyết vấn đề của nhân vật, khiến người đọc cảm thấy hài hước.
Viết
Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên, xã hội
Ở lớp 10 và lớp 11, bạn đã tập viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên, xã hội theo các đề tài mang tính cụ thể, giới hạn ở một số đối tượng đơn lẻ. Đến với bài học này, cùng hướng về một vấn đề tự nhiên, xã hội, bạn sẽ được hướng dẫn lựa chọn các đề tài mang tính khái quát hơn để viết báo cáo nghiên cứu. Bên cạnh việc vận dụng các kĩ năng và thao tác nghiên cứu cơ bản từng được làm quen, với yêu cầu viết ở đây, bạn sẽ phải xây dựng những luận điểm thể hiện được khả năng làm chủ của mình trước một khối lượng dữ liệu phong phú và phức tạp về đối tượng.
Yêu cầu
- Giới thiệu được đề tài nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên, xã hội; nêu được câu hỏi nghiên cứu (vấn đề) chính cần giải quyết.
- Trình bày được kết quả nghiên cứu thông qua hệ thống luận điểm sáng rõ, phù hợp với các dữ liệu đã thu thập.
- Thể hiện được cái nhìn toàn cảnh về vấn đề nghiên cứu và quan điểm của người viết.
- Biết vận dụng các thao tác nghiên cứu cơ bản, khai thác các nguồn tham khảo đáng tin cậy.
- Sử dụng hiệu quả sơ đồ, bảng biểu; có thuyết minh các hình ảnh minh hoạ; có sử dụng trích dẫn, cước chú và biết trình bày phần tài liệu tham khảo theo đúng quy định.
Trang 151 — Mỹ thuật Việt Nam thời mở cửa
Câu 1. Đặt vấn đề
- Trong thập niên 1990 - 2000, một thập niên có thể được định danh bằng cụm từ khái niệm mở cửa - hội nhập - hình thành thị trường, hình ảnh văn hóa nghệ thuật Việt Nam đến với thế giới trước tiên là qua mĩ thuật. Mĩ thuật chính là “cửa sổ đổi mới”, “hình ảnh đổi mới” của văn nghệ Việt Nam thời kì này. Chỉ trong vài năm, không gian hoạt động của mĩ thuật Việt Nam đã mở rộng, khắp thế giới, tạo ra một khái niệm mĩ thuật Việt Nam hiện đại trong cộng đồng nghệ thuật khu vực và quốc tế. Đây là hiện tượng cần được khái quát, phân tích thấu đáo, có thể bắt đầu từ việc nhận diện các đặc điểm nổi bật trong sự phát triển của mĩ thuật.
Trả lời:
- Câu hỏi trong trang là: "1. Đặt vấn đề"
- Nội dung:
- Thập niên 1990 - 2000 có thể gọi là "một thập niên có thể được định danh bằng cụm từ khái niệm mở cửa - hội nhập - hình thành thị trường, hình ảnh văn hóa nghệ thuật Việt Nam đến với thế giới trước tiên là qua mĩ thuật."
- Mĩ thuật là “cửa sổ đổi mới”, “hình ảnh đổi mới” của văn nghệ Việt Nam thời kì này.
- Mĩ thuật Việt Nam đã mở rộng không gian hoạt động, tạo ra khái niệm mĩ thuật Việt Nam hiện đại trong cộng đồng nghệ thuật quốc tế.
- Yêu cầu: Nhận diện các đặc điểm nổi bật trong sự phát triển của mĩ thuật.
- Nội dung:
Câu 2. Giải quyết vấn đề
- Thẩm mĩ dân tộc - hiện đại - mở cửa là thẩm mĩ chủ đạo của giai đoạn đổi mới. Khuynh hướng mạnh mẽ này được triển khai bởi một lớp nghệ sĩ khá đông đảo.
- Cửa mở hai chiều là đặc điểm nổi bật.
Trả lời:
Luận điểm thứ nhất:
- Thẩm mĩ dân tộc - hiện đại - mở cửa là thẩm mĩ chủ đạo của giai đoạn đổi mới.
- Được triển khai bởi một lớp nghệ sĩ khá đông đảo.
- Đặc điểm nổi bật: Cửa mở hai chiều.
Giải thích:
- Thẩm mĩ dân tộc: tìm về nghệ thuật dân tộc thời tiền thực dân, thời trước khi có Trường Mỹ thuật Đông Dương.
- Hiện đại: chịu ảnh hưởng của nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa châu Âu.
- Mở cửa: giao lưu với nghệ thuật thế giới, tạo nên sự đa dạng trong tư tưởng và hình thức biểu hiện.
Trang 152 — [Soạn bài]
Câu hỏi:
- Làm rõ các khía cạnh của luận điểm thông qua phân tích, đánh giá những dữ liệu thực tế.
- Nêu luận điểm thứ hai.
- Dựa ra các dữ liệu để làm tăng sức thuyết phục của luận điểm.
Trả lời:
- Làm rõ các khía cạnh của luận điểm thông qua phân tích, đánh giá những dữ liệu thực tế.
Theo văn bản, "chiều mở vào" và "chiều mở ra" là hai khía cạnh quan trọng của quá trình phát triển nghệ thuật, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự thay đổi xã hội.
"Chiều mở vào": Là việc nghệ sĩ tập trung thể hiện nội giới cá nhân, khám phá sâu sắc thế giới bên trong của mình. Điều này giúp nghệ thuật trở nên đa dạng, phong phú hơn. Ví dụ: "nghệ sĩ coi việc thể hiện nội giới của mình, tìm hiểu nó, làm nó phát lộ trung thực trên tác phẩm quan trọng hơn vấn đề đề tài, hình tượng mô tả."
"Chiều mở ra": Là việc nghệ sĩ hướng ra bên ngoài, hòa nhập với thế giới, tiếp thu các xu hướng nghệ thuật mới. "Chiều mở ra cũng có hai chiều đan xen nhau. Modernism thế kỷ XX đến với Việt Nam chậm trễ sáu, bảy mươi năm khi những thành tựu của nó đã trở thành cổ điển."
- Nêu luận điểm thứ hai.
Luận điểm thứ hai tập trung vào sự tiếp thu và hội nhập của nghệ thuật Việt Nam với các phong trào nghệ thuật quốc tế, đặc biệt là chủ nghĩa hiện đại (Modernism).
- "Modernism thế kỷ XX đến với Việt Nam chậm trễ sáu, bảy mươi năm khi những thành tựu của nó đã trở thành cổ điển."
- Trong khoảng hơn mười năm, các nghệ sĩ Việt Nam đã tìm hiểu và thử nghiệm lại những thành tựu một trăm năm của "phần bên kia thế giới" với một thái độ vừa vồ vập vừa dè chứng.
- Dựa ra các dữ liệu để làm tăng sức thuyết phục của luận điểm.
- Dữ liệu về sự thay đổi trong nghệ thuật: "Chỉ có nghệ thuật trừu tượng được du nhập đầy đủ như một thể loại hơn là một chủ nghĩa."
- Dữ liệu về sự đa dạng của các trường phái nghệ thuật: "Ngoài các trường phái khác từ Tượng trưng, Dada thú, Biểu hiện, Siêu thực, Lập thể tối trừu tượng - Biểu hiện, Pop-art hay Conceptual Art (nghệ thuật ý niệm),... cùng các bậc thầy của nó không thực sự tạo ra các dòng tương đương mà chỉ vang vọng, để dấu ấn trong từng tác phẩm hay tác giả."
Những dữ liệu này giúp củng cố luận điểm về sự mở rộng và đa dạng hóa của nghệ thuật Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế.