Trang 19 — Chuyện chức phán sự đền Tản Viên
Câu 1. Hãy tóm tắt văn bản Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (khoảng 7 – 10 dòng). Theo em, văn bản có thể chia làm mấy phần?
Trả lời: Tóm tắt văn bản:
- Truyện kể về Ngô Tử Văn, một chàng áo vải ở thành Đông Quan, vốn quen biết với Từ Văn, một buổi sáng đi ra ngoài cửa tây vài dặm, trông thấy trong sương mù có xe ngựa đi đến.
- Người đi đường tránh xa, xe quan phán sự.
- Tử Văn thấy người ngồi trên xe chính là Từ Văn. Song Tử Văn chỉ chắp tay thi lễ chứ không nói một lời nào, rồi thoáng đã cười giễu mà biến mất.
- Đến nay con cháu Từ Văn hãy còn, người ta truyền rằng đó là "nhà quan phán sự"!
Văn bản có thể chia làm 2 phần:
- Phần 1: Giới thiệu về hoàn cảnh và diễn biến truyện.
- Phần 2: Kết thúc truyện và lời bình.
Câu 2. Tìm trong văn bản những chi tiết liên quan đến lai lịch của Ngô Tử Văn. Theo em, tại sao tác giả lại lựa chọn những chi tiết đó để giới thiệu về nhân vật?
Trả lời: Những chi tiết liên quan đến lai lịch của Ngô Tử Văn:
- Là một chàng áo vải.
- Là người ở thành Đông Quan.
Tác giả lựa chọn những chi tiết này để giới thiệu về nhân vật vì:
- Thể hiện xuất thân của Tử Văn là một người bình dân.
- Tạo bối cảnh cho câu chuyện.
Câu 3. Trong truyện, Từ Văn được miêu tả trong tương quan với những nhân vật nào? Qua các tương quan ấy, em thấy Từ Văn hiện lên với những phẩm chất gì?
Trả lời: Từ Văn được miêu tả trong tương quan với nhân vật:
- Người đi đường tránh xa, xe quan phán sự.
- Tử Văn.
Qua các tương quan ấy, em thấy Từ Văn hiện lên với những phẩm chất:
- Có tài năng và phẩm chất cao thượng.
- Được người ta kính trọng.
Câu 4. Thống kê những yếu tố kì ảo trong truyện. Vì sao nói: Nguyên Dữ đã tiếp thu sáng tạo những yếu tố kì ảo trong một số truyện cổ dân gian?
Trả lời: Những yếu tố kì ảo trong truyện:
- Xe quan phán sự đi đến trong sương mù.
- Tử Văn cười giễu mà biến mất.
Nguyên Dữ đã tiếp thu sáng tạo những yếu tố kì ảo trong một số truyện cổ dân gian để:
- Tạo ra một câu chuyện hấp dẫn và thú vị.
- Thể hiện tài năng và sự sáng tạo của tác giả.
Câu 5. Nêu nhận xét của em về chức năng của người kể chuyện trong phần chính văn và người bình luận ở cuối truyện.
Trả lời: Chức năng của người kể chuyện trong phần chính văn:
- Kể lại câu chuyện một cách khách quan.
Chức năng của người bình luận ở cuối truyện:
- Giúp người đọc hiểu rõ hơn về ý nghĩa của câu chuyện.
Câu 6. Hãy nêu suy nghĩ của em về lời bình ở cuối truyện: "Kẻ sĩ chỉ lo không cứng cỏi được, còn gây hay không là việc của trời."
Trả lời: Lời bình ở cuối truyện muốn nói rằng:
- Người có tài năng và phẩm chất cao thượng cần phải có lòng dũng cảm và ý chí kiên cường.
- Thành công hay thất bại còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan.
Trang 22 — Muối của rừng
Câu hỏi:
- Sau Tết Nguyên đán một tháng là thời gian thích nhất ở rừng. Cây cối đều nhú lộc non. Rừng xanh gắt và ấm ướt. Thiên nhiên vừa trang trọng, vừa tinh cảm. Điều ấy một phần là do mùa xuân.
Khoảng thời gian này mà đi trong rừng, chân giẫm lên lớp lá ái mộc, hít thở không khí trong lọ, thinh thoảng lại được thốt minh bới một giọt nước trên cây ró xuống vài trần thì thật tuyệt thú. Tất cả những trò trốn nhỏ nhắn, để tiện vấp phải hàng ngày hoàn toàn có thể rử sạch bởi một cú nhảy của con sóc nhỏ trên cành đậu da.
Chính dịp đó ông Diều đi săn.
Ý nghĩ đi săn này sinh khi thằng con học ở nước ngoài gửi về biếu ông khẩu súng hai nòng. Khẩu súng tuyệt với, nhẹ bồng, hệt như một thứ đồ chơi, thật nằm mơ cũng không thấy được. Ở tuổi sáu mươi, với khẩu súng mới, đi săn trong rừng vào một ngày xuân kẻ cũng đáng sống.
Thời điểm ông Diều chọn để đi săn đem lại cho em suy nghĩ gì?
Trả lời: Thời điểm ông Diều chọn để đi săn đem lại cho em suy nghĩ về sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên. Mùa xuân là thời gian thiên nhiên trở nên tươi mới và sinh động, với "cây cối đều nhú lộc non", "rừng xanh gắt và ấm ướt". Không khí trong rừng vào mùa xuân thật trong lành và dễ chịu: "chân giẫm lên lớp lá ái mộc, hít thở không khí trong lọ". Chính không khí trong lành và cảnh quan tươi đẹp đó đã thôi thúc ông Diều lên rừng để tận hưởng và khám phá. Việc đi săn vào thời điểm này không chỉ là một hoạt động giải trí mà còn là cách ông Diều kết nối với thiên nhiên, tìm lại niềm vui trong cuộc sống. "Ở tuổi sáu mươi, với khẩu súng mới, đi săn trong rừng vào một ngày xuân kẻ cũng đáng sống" cho thấy rằng, dù đã lớn tuổi, ông Diều vẫn tìm thấy niềm vui và ý nghĩa trong những điều giản dị, gần gũi với thiên nhiên.
Lưu ý
Không có câu hỏi rõ ràng cho mục "1. Chuẩn bị" và các nội dung yêu cầu trả lời. Vì vậy, chỉ trả lời cho phần "2. Đọc hiểu" với câu hỏi xác định.
Câu hỏi:
- Tại sao chi tiết kì ảo xuất hiện ở đây?
Trả lời: Chi tiết kì ảo xuất hiện ở đây nhằm nhấn mạnh sự nguy hiểm và thử thách mà ông Diệu phải đối mặt khi cố gắng cứu con khi nhỏ. Đoạn văn có viết:
"Tiếng kêu than thốt. Ông Diệu trông lên thì bỗng thấy con khi dự bị thương nằm vắt ở trên mỏ đá. Không thấy con khi cái. Ông mừng quá tìm hướng leo lên."
Chi tiết này tạo ra một tình huống căng thẳng và làm nổi bật sự dũng cảm cũng như tình yêu thương của ông Diệu dành cho con. Đồng thời, nó cũng góp phần xây dựng không khí hồi hộp và kịch tính trong câu chuyện.
Trang 24 — ...
Câu hỏi: Tại sao ông Diều lại tránh nhìn vào đôi mắt con khi?
Trả lời: Ông Diều tránh nhìn vào đôi mắt con khi vì khi nhìn vào đôi mắt nó, ông thấy được sự cảm thương và van xin của con khi, điều này khiến ông day dứt lương tâm. Ông Diều cảm thấy tội lỗi khi cầm viên đạn và chuẩn bị bắn con khi. Nhìn vào mắt con khi, ông thấy được nỗi sợ hãi và sự cầu cứu, điều này khiến ông không đành lòng và muốn buông bỏ hành động giết hại nó. Như vậy, ông Diều tránh nhìn vào đôi mắt con khi để tránh cảm giác tội lỗi và day dứt lương tâm.