Trang 27 — Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện

Câu hỏi: Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện.

Trả lời:

So sánh hai tác phẩm văn học nhằm làm rõ một quy luật chung nào đó hay để nhìn nhận sâu hơn giá trị của từng tác phẩm là công việc quen thuộc của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học. Trong nhà trường phổ thông, điều đó cũng cần được thực hiện ở mức độ phù hợp vì nó có thể giúp bạn rèn luyện khả năng liên hệ, kết nối, huy động kiến thức, thiết lập cái nhìn tổng quan khi đi vào khám phá thế giới tác phẩm văn học. Ở bài học này, trước hết, bạn sẽ được làm quen với công việc nêu trên qua việc viết một bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện.

Dấu hiệu nhận biết nghịch ngữ

Câu hỏi:

  • Có sự kết hợp dường như phi lí giữa các từ mang nghĩa đối chọi ngay trong một cụm từ. Người tiếp nhận có thể nhận ra ngay tính chất nghịch ngữ của cụm từ đó mà không cần phải đối chiếu nó với các cụm từ khác trong câu. Ví dụ: Những việc trắc trở như thế đã làm cho ông già hơn tám mươi tuổi phải chết một cách bình tĩnh.

Trả lời:

  • Có sự kết hợp dường như phi lí giữa các từ mang nghĩa đối chọi ngay trong một cụm từ. Người tiếp nhận có thể nhận ra ngay tính chất nghịch ngữ của cụm từ đó mà không cần phải đối chiếu nó với các cụm từ khác trong câu. Ví dụ: Những việc trắc trở như thế đã làm cho ông già hơn tám mươi tuổi phải chết một cách bình tĩnh.

a. Đá đây từ ngàn năm vẫn mãi phục phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện quăng ánh âm mà quanh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngặt sông là một số hồn bên nhòm cá dấy để vồ lấy thuyền.

(Nguyễn Tuân, Người lái đò Sông Đà)

Trả lời:

  • Trong đoạn văn này, Nguyễn Tuân đã sử dụng nghịch ngữ một cách tài tình để tạo nên hình ảnh "đá phục phục hết trong lòng sông".
  • Câu văn tạo cảm giác như những viên đá dưới lòng sông đang âm thầm phục vụ, chờ đợi những chiếc thuyền đi qua để có thể "vồ lấy".
  • Hiệu quả nghệ thuật của nghịch ngữ ở đây là tạo nên một hình ảnh độc đáo, giàu tính biểu cảm, giúp người đọc hình dung rõ hơn về sự hiểm trở của dòng Sông Đà.

b. Trong lúc ấy, ông Phó bảo cấp tiến với xã hội và bảo thủ với gia đình vôi vàng lấy bút máy và số tay ra ghi chép, coi những lời lẽ quý hó ấy tự hó bật ở miệng một vị nhân mà ra...

(Vũ Trọng Phụng, Số đỏ)

Trả lời:

  • Trong đoạn văn này, Vũ Trọng Phụng sử dụng nghịch ngữ qua cụm từ "vôi vàng lấy bút máy".
  • Cụm từ này kết hợp giữa "vôi vàng" - một thứ chất liệu thô sơ, thường dùng để viết trên tường, với "bút máy" - một công cụ hiện đại.
  • Sự kết hợp này tạo ra một hình ảnh độc đáo, hài hước, góp phần bộc lộ rõ tính cách nhân vật ông Phó, một người vừa có tư tưởng tiến bộ, vừa bảo thủ.

Lưu ý:

  • Ở nhiều tác phẩm văn học, nghịch ngữ có thể hiện diện ngay ở nhan đề hay tên một số chương mục. Ví dụ: Thi hài sống (nhan đề một vở kịch của Lép Tôn-xtôi), Hạnh phúc của một tang gia (một phần tên chương XV của tiểu thuyết Số đỏ - Vũ Trọng Phụng),...

Dấu hiệu nhận biết nghịch ngữ

  • Câu có cụm từ mang tính chất của một phụ chú khác thường đối với đối tượng được đề cập trước đó. Ví dụ: Ông hứa thế; giả thử cứ cho rằng một vị Toàn quyền Đông Dương mà lại biết giữ lời hứa đi chăng nữa, thì chúng ta vẫn được phép tự hỏi liệu quan Va-ren sẽ "chăm sóc" vụ ấy vào lúc nào và ra làm sao.

(Nguyễn Ái Quốc, Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu)

Trả lời:

  • Trong câu văn này, cụm từ "giả thử cứ cho rằng một vị Toàn quyền Đông Dương mà lại biết giữ lời hứa đi chăng nữa" đóng vai trò như một phụ chú, làm rõ hơn cho giả định trước đó.
  • Cụm từ này mang tính chất của một phụ chú khác thường đối với đối tượng được đề cập (vị Toàn quyền Đông Dương), tạo nên một sự nhấn mạnh về sự không chắc chắn trong lời hứa của Va-ren.

Đọc đoạn trích trên, đọc giả nhận thấy tiếng cười mỉa mai bật ra khi tác giả cố tình mô phỏng âm thanh tiếng khóc nấc một cách khác thường, ngược với lối trần thuật có về khách quan trước đó.

Trả lời:

  • Đoạn trích trên cho thấy tác giả đã sử dụng một lối trần thuật đặc biệt, phá cách thông qua việc mô phỏng âm thanh tiếng khóc nấc.
  • Điều này không chỉ tạo ra một hiệu ứng nghệ thuật độc đáo mà còn thể hiện thái độ mỉa mai, châm biếm của tác giả đối với đối tượng được viết.
  • Việc sử dụng âm thanh tiếng khóc nấc một cách khác thường đã nhấn mạnh sự giả tạo, trơ trẽn trong hành động của nhân vật.

Trang 30 — Bài viết tham khảo

Câu 1. Nêu được mục đích và cơ sở của việc so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện.

Trả lời: Mục đích của việc so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện là để làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt giữa chúng trên một số phương diện nội dung và hình thức cụ thể theo mục đích và phạm vi đã xác định. Cơ sở của việc so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện là chúng có những điểm tương đồng và khác biệt đáng kể.

Câu 2. Trình bày được các thông tin khái quát về hai tác phẩm truyện.

Trả lời: Hai tác phẩm truyện được đề cập là "Mảnh trăng cuối rặng" và "Những đứa con trong gia đình". Cả hai tác phẩm đều là những truyện ngắn tiêu biểu của văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975. Chúng thường được các nhà phê bình nhắc đến đầu tiên khi nói về đề tài chiến tranh.

Câu 3. Làm rõ được những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai tác phẩm truyện xét trên một số phương diện nội dung và hình thức cụ thể theo mục đích và phạm vi đã xác định.

Trả lời:

  • Tương đồng:
    • Đều viết về đề tài chiến tranh, tiêu biểu cho những cách tiếp cận hiện thực chiến tranh của văn học trong một giai đoạn cụ thể.
    • Phản ánh thực tế cuộc kháng chiến chống Mỹ và vai trò của con người trong thời kỳ đó.
  • Khác biệt:
    • Phong cách cá nhân độc đáo của từng tác giả trong cách thể hiện chủ đề.
    • Cách xây dựng nhân vật và mạch truyện mang đặc trưng riêng của mỗi nhà văn.

Câu 4. Rút ra được những nhận xét, đánh giá cần thiết, phù hợp về hai tác phẩm truyện căn cứ vào kết quả so sánh.

Trả lời: Qua so sánh, có thể thấy cả hai tác phẩm đều góp phần làm rõ phong cách sáng tác của các nhà văn cách mạng. "Mảnh trăng cuối rặng" và "Những đứa con trong gia đình" không chỉ là những tác phẩm xuất sắc về đề tài chiến tranh mà còn thể hiện sự đa dạng trong cách tiếp cận và thể hiện hiện thực.

Câu 5. Nêu được ý nghĩa của việc đánh giá hai tác phẩm truyện thông qua việc so sánh.

Trả lời: Việc đánh giá hai tác phẩm truyện thông qua so sánh giúp người đọc hiểu rõ hơn về giá trị văn học, nghệ thuật của từng tác phẩm. Đồng thời, qua đó cũng thấy được sự phát triển và đa dạng của văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975.


Trang 31 — Mảnh trăng cuối rừng

Câu hỏi:

  • Thông tin cần thiết về từng tác phẩm được so sánh: xuất xứ, bối cảnh câu chuyện, cốt truyện, nhân vật,...
  • Thông tin khái quát về Mảnh trăng cuối rừng.
  • Thông tin khái quát về Những đứa con trong gia đình.

Trả lời các câu hỏi

1. Thông tin cần thiết về từng tác phẩm được so sánh: xuất xứ, bối cảnh câu chuyện, cốt truyện, nhân vật,...

  • Xuất xứ:

    • Mảnh trăng cuối rừng: Được in vào sách lần đầu năm 1970, trong tập Những vùng trời khác nhau của Nguyễn Minh Châu.
    • Những đứa con trong gia đình: In lần đầu trong tập Truyện và kí, xuất bản năm 1969 của Nguyễn Thi.
  • Bối cảnh câu chuyện:

    • Mảnh trăng cuối rừng: Bối cảnh chiến tranh, khi Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc.
    • Những đứa con trong gia đình: Bối cảnh chiến tranh, tại một vùng không gian khác, cụ thể là miền Tây Nam Bộ.
  • Cốt truyện:

    • Mảnh trăng cuối rừng: Câu chuyện xoay quanh mối tình giữa Lâm và Nguyệt trong bối cảnh chiến tranh. Hai người gặp nhau trong tình huống bất ngờ và chia tay trong sự bình tĩnh và cảm giác “gần như mê muội lẫn cảm phục”.
    • Những đứa con trong gia đình: Truyện kể về những đứa con trong một gia đình nông dân có truyền thống yêu nước, cách mạng, phải chịu nỗi đau khi cha mẹ bị kẻ thù giết.
  • Nhân vật:

    • Mảnh trăng cuối rừng: Lâm và Nguyệt, những con người bình thường nhưng thể hiện phẩm chất kiên cường trong chiến tranh.
    • Những đứa con trong gia đình: Thừa, má và ba, những người vừa chớm bước vào tuổi thanh niên với lòng căm thù giặc sâu sắc.

2. Thông tin khái quát về Mảnh trăng cuối rừng

  • Mảnh trăng cuối rừng là truyện ngắn được in trong tập Những vùng trời khác nhau của Nguyễn Minh Châu, xuất bản năm 1970.
  • Bối cảnh: Chiến tranh Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc.
  • Cốt truyện xoay quanh câu chuyện tình yêu giữa Lâm (chiến sĩ lái xe) và Nguyệt (cô gái làm việc ở cầu Đắc Glêi).
  • Nhân vật Lâm và Nguyệt thể hiện sự bình tĩnh, ý chí quyết tâm trong hoàn cảnh thử thách.

3. Thông tin khái quát về Những đứa con trong gia đình

  • Những đứa con trong gia đình là truyện ngắn trong tập Truyện và kí của Nguyễn Thi, xuất bản năm 1969.
  • Bối cảnh: Một vùng không gian khác (miền Tây Nam Bộ) trong thời kì chiến tranh.
  • Cốt truyện tập trung vào gia đình nông dân có truyền thống cách mạng, sự hy sinh của cha mẹ và trách nhiệm của những đứa con kế thừa truyền thống yêu nước.
  • Nhân vật chính: Thừa, má và ba, thể hiện lòng yêu nước và ý chí chiến đấu vì độc lập.

Trang 32 — Phân tích điểm tương đồng giữa hai tác phẩm

Câu hỏi: Phân tích cụ thể điểm tương đồng giữa hai tác phẩm: tính chất của sự bao trùm đời sống tinh thần của cả dân tộc trong cuộc kháng chiến. Nhân vật nào cũng tràn đầy tinh thần cách mạng, dám đương đầu mọi thử thách bằng sự kiên cường, dẻo dai đáng khâm phục. Ở các nhân vật không hề thấy dấu vết của sự ưu tư lựa chọn. Tất cả hành động đều diễn ra có vẻ dễ dàng, tự nhiên, thể hiện sự chỉ phối triệt để của một đạo lí sống mà mọi thành viên của cộng đồng đều thừa nhận, tin tưởng. Ở truyện Mảnh trăng cuối rìng, Nguyệt vẫn kiên tâm chờ đợi Lâm bằng lòng tin tuyệt đối vào sự vun đắp chân tình của tập thể. Cô giúp Lâm dập lửa cứu xe, đẩy Lâm vào chỗ trú an toàn khi bom đội, thân nhiên nói về vết thương của mình với một tinh thần dấn trách vô tư và sự xả thân nhẹ nhàng. Tương tự như vậy, ở truyện Những đứa con trong gia đình, mọi hành xử của các nhân vật đều không mang tính đột biến, vì chúng được thực hiện đúng theo điều mọi người nghĩ, như là tất yếu phải thế. Vì vậy, việc hai chị em Chiến, Việt tranh nhau đi bộ đội đã được ông chú tiếp nhận một cách dễ dàng và đơn vị tuyển quân cũng hoàn toàn đồng thuận. Ở một gia đình lấy câu “trung hiếu làm đầu” thì việc thi đua lập công không có gì là lạ. Cuốn sổ gia đình do chú Năm lập ra ghi chép đầy đủ mọi việc qua năm tháng, nhưng sự việc nào cũng hướng về đạo lí tự nhiên của đời sống cộng đồng, như sống thì phải cày về với biển.

Trả lời: Hai tác phẩm Mảnh trăng cuối rìngNhững đứa con trong gia đình đều thể hiện sự bao trùm của tinh thần cách mạng trong đời sống dân tộc Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến. Các nhân vật trong hai truyện đều mang đậm tinh thần cách mạng, sẵn sàng đương đầu với thử thách, thể hiện sự kiên cường và dẻo dai đáng khâm phục.

Cả hai tác phẩm đều xây dựng nhân vật với tính cách tự nhiên, không hề có sự ưu tư hay dấu vết của sự lựa chọn cá nhân. Mọi hành động của nhân vật đều xuất phát từ đạo lý sống chung của cộng đồng, thể hiện sự hòa quyện và thống nhất giữa cá nhân và tập thể.

Trong Mảnh trăng cuối rìng, nhân vật Nguyệt "vẫn kiên tâm chờ đợi Lâm bằng lòng tin tuyệt đối vào sự vun đắp chân tình của tập thể". Hành động của Nguyệt như giúp Lâm dập lửa cứu xe, đẩy Lâm vào chỗ trú an toàn khi bom đội, hay nói về vết thương của mình với tinh thần dấn trách vô tư và xả thân nhẹ nhàng, tất cả đều thể hiện sự tự nhiên và chân thành.

Tương tự, trong Những đứa con trong gia đình, các nhân vật như chị Chiến và Việt khi quyết định đi bộ đội cũng không gặp sự phản đối từ gia đình. Mọi hành xử của họ đều được thực hiện một cách dễ dàng và được chấp nhận bởi vì phù hợp với đạo lý "trung hiếu làm đầu" của gia đình. Cuốn sổ gia đình do chú Năm lập ra ghi chép mọi việc, nhưng tất cả đều hướng về đạo lý tự nhiên của đời sống cộng đồng.

Tinh thần cách mạng trong hai tác phẩm không chỉ thể hiện qua hành động của nhân vật mà còn qua cách họ nhìn nhận và thực hiện nhiệm vụ. Điều này tạo nên sự đồng cảm và gắn kết trong cộng đồng, thể hiện rõ nét tính chất bao trùm của đời sống tinh thần trong cuộc kháng chiến.

Tóm lại, điểm tương đồng giữa hai tác phẩm là ở chỗ cả hai đều phản ánh tinh thần cách mạng một cách tự nhiên, sâu sắc và đầy cảm hứng, khẳng định sự đoàn kết và đồng lòng của dân tộc trong thời kỳ kháng chiến.