Trang 33 —

Câu hỏi:

  • Ở trên thuyền có bao giờ lão ta đánh chị không? - Tôi hỏi.
  • Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu... Giả mà lão uống rượu... thì tôi còn đỡ khổ... Sau này, con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão... đưa tôi lên bờ mà đánh...
  • Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được! - Đâu và tôi cùng một lúc thốt lên.
  • Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nổi vất và của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông...
  • Phải, phải, bây giờ tôi đã hiểu, - bất ngờ Đâu thốt một tiếng thở dài đầy chua chất, trên thuyền phải có một người đàn ông... dù hèn man rơ, tàn bạo?
  • Phải. - Người đàn bà đáp. - Cũng có khi biến động sông gió chừ chú chú? Lát lâu sau, mụ lại mới nói tiếp:
  • Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám dân bá hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chở chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đằng một sắp con(1), nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bá là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở trên thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không được sống cho mình như ở trên đất được! Mong các chú cách mạng thông tình đến cía lẽ đó mà bỏ qua. Các chú đừng bắt tội hồ nói! Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xa của mụ chọt ứng sáng lên như một nụ cười - Và lại, trên chiếc thuyền cũ kĩ của vợ chồng con cái chúng tôi sống hoà thuận, vui vẻ.
  • Cả đời chị có một lúc nào thật vui không? - Đột nhiên tôi hỏi.
  • Có chứ, chú! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no...

Trả lời:

Tuy nhiên, văn bản trên là một đoạn trích từ truyện ngắn "Lão Mợ" của nhà văn Nam Cao. Đoạn trích đã thể hiện được nỗi khổ của người phụ nữ, vai trò của người phụ nữ trong gia đình.


Câu hỏi: Viên chánh án huyện rời chiếc bàn xếp đến phát ngốt lên những chồng hồ sơ, giày mã. Đầu đi đi lại lại trong phòng, hai tay thọc sâu vào hai bên túi chiếc quần quân phục đã cũ. Một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công(2) của cái phố huyện vùng biên, lúc này trông Đâu.


Câu hỏi: Thủ suy đoán về điều "vừa vỡ ra trong đầu" vị chánh án.

Trả lời: Thủ suy đoán về điều "vừa vỡ ra trong đầu" vị chánh án là sự thông cảm của viên chánh án với người dân, với nỗi khổ của họ.


Câu hỏi: Người đàn bà đã khóc khi nghe tôi nhắc đến thằng Phác. Nhưng tình thương con cũng như nồi đau, cũng như cái thâm trầm trong việc hiểu thấu các lẽ đời hình như mụ chẳng bao giờ để lộ ra bề ngoài. Trong cái đám con cái đông đúc đang sống ở dưới thuyền, mụ không yêu một đứa nào bằng thằng Phác, cái thằng con từ tình khí đến mặt mũi giống hệt lão ta rự cái lão đàn ông đã từng hành hạ mụ, và không khéo sẽ còn hành hạ mụ cho đến khi chết - nếu không có cách mạng về.

Trả lời:

Tuy nhiên, văn bản trên đã thể hiện được nỗi khổ của người phụ nữ, vai trò của người phụ nữ trong gia đình và tình yêu thương của người mẹ dành cho con cái.


Trang 34 —

Câu hỏi:

Tại sao hình ảnh con thuyền giữa sóng gió được lặp lại trong đoạn văn này?

Trả lời: Hình ảnh con thuyền giữa sóng gió được lặp lại trong đoạn văn nhằm nhấn mạnh sự nguy hiểm và thử thách mà con thuyền phải đối mặt trong cơn bão.

"Giới ruồi ao ao xung quanh chiếc xe reo vừa mới trên rừng xuống, chưa dỡ gỗ xuống hết. Cái ông lão đã ngoài sáu mươi mà vẫn còn theo đuôi nghề sơn tràng đang ngồi bên bếp lửa gửi trời, vẫn đặt hai con mắt đầy vẻ lão ra ngoài mặt pha, nơi có chiếc thuyền."

Đoạn văn cho thấy ông lão vẫn không rời mắt khỏi chiếc thuyền đang chống chọi với sóng gió giữa phá. Hình ảnh này gợi lên sự lo lắng, quan tâm sâu sắc của ông lão đối với chiếc thuyền, đồng thời làm nổi bật sự kiên cường của con thuyền trước thiên nhiên dữ dội.

Câu hỏi: Chiêu hôm ấy, trong khi Đẩu gặp lão dân ông để giao dục rèn dạy lão thì tôi trở lại xuống đồng thuyền.

Gần sáng trời trong giờ dột ngột, từng tảng mây đen xếp ngồn ngang trên mặt biển đen ngòm, và biển bắt đầu gào thét, sóng bạc đầu ngoài cửa lạch nổi cơn lên, cao như những ngọn núi tuyết trắng.

Trong phá, các thứ tàu thuyền đều tìm vào bờ để trú, duy ở giữa phá chằng chịc hiểu vì sao vẫn còn... thấy một chiếc thuyền vô bệ đang đậu.

Giới ruồi áo ao xung quanh chiếc xe reo vừa mới trên rừng xuống, chưa dỡ gỗ xuống hết. Cái ông lão đã ngoài sáu mươi mà vẫn còn theo đuôi nghề sơn tràng đang ngồi bên bếp lửa gửi trời, vẫn đặt hai con mắt đầy vẻ lão ra ngoài mặt pha, nơi có chiếc thuyền.

Cái bếp lửa cũng bị gió ném tung ra khắp bãi cát, những tàn lửa đỏ rực bay quần lên xung quanh chỗ tôi và ông lão ngồi. Tôi xem lại xoong com đã sống nhờ hộ ông lão đoạn gào lên:

  • Chiều giờ này không khéo bão cấp 11 rồi?

  • Ừ, ử...! - Ông lão lầm bầm, vẫn không rời mắt khỏi chiếc thuyền đang chống chọi với sóng gió giữa phá.

Những tấm ảnh tôi mang về, đã được chọn lấy một tấm. Trưởng phòng rất bằng lòng về tôi.

Trang 34 —

Câu X. [chép nguyên văn câu hỏi từ SGK]

Trả lời: [trả lời chi tiết, có dẫn chứng nguyên văn từ tác phẩm khi cần]


Trang 35 — Thực hành tiếng Việt: Ngôn ngữ trang trọng và ngôn ngữ thân mật

Câu 1. Từ hiểu biết về ngôn ngữ trang trọng và ngôn ngữ thân mật, hãy nêu nhận xét về các lời thoại dưới đây của nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu).

a) Người đàn bà hướng về phía Đẩu, tự nhiên chắp tay lại vài lia lia:

  • Con lạy quý tòa...
  • Sao, sao?
  • Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó.

b) - Chị cảm ơn các chú! - Người đàn bà đột nhiên thốt lên bằng một giọng khẩn thiết. - Đây là chị nói thành thực, chị cảm ơn các chú. Lòng các chú tốt, khần thiết.

Trả lời:

Ngôn ngữ trang trọng thường được sử dụng trong các tình huống giao tiếp chính thức, thể hiện sự tôn trọng và lịch sự. Ngôn ngữ thân mật thường được sử dụng trong giao tiếp đời thường, gần gũi.

a) Người đàn bà hướng về phía Đẩu, tự nhiên chắp tay lại vài lia lia:

  • Con lạy quý tòa...
  • Sao, sao?
  • Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó.
  • Lời thoại của người đàn bà hàng chài thể hiện sự khiêm nhường, tôn trọng đối phương (quý tòa).
  • Cách xưng hô con, quý tòa thể hiện mối quan hệ không ngang hàng và sự tôn trọng của người đàn bà đối với Đẩu.
  • Ngôn ngữ ở đoạn này được xem là ngôn ngữ trang trọng vì mang tính chất trang nghiêm, lễ phép trong tình huống khẩn cầu.

b) - Chị cảm ơn các chú! - Người đàn bà đột nhiên thốt lên bằng một giọng khẩn thiết. - Đây là chị nói thành thực, chị cảm ơn các chú. Lòng các chú tốt, khẩn thiết.

  • Lời thoại thể hiện sự chân thành và cảm kích (cảm ơn các chú).
  • Cách xưng hô chịcác chú thể hiện sự tôn trọng nhưng gần gũi hơn so với quý tòa.
  • Ngôn ngữ ở đoạn này vẫn mang tính trang trọng nhưng tha thiết và chân thành.

=> Nhận xét: Lời thoại của người đàn bà hàng chài vừa thể hiện sự tôn trọng, vừa thể hiện tâm trạng khẩn thiết, tha thiết. Ban đầu, bà sử dụng ngôn ngữ trang trọng để thể hiện sự tôn kính (quý tòa), sau đó chuyển sang giọng điệu thân mật và tha thiết (các chú). Điều này cho thấy sự thay đổi trong cách thể hiện cảm xúc và thái độ của nhân vật.


Trang 36 — Chiếc thuyền ngoài xa

Câu 2. Tìm nhận xét của người kể chuyện trong mỗi đoạn văn dưới đây (trích Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu) về ngôn ngữ của nhân vật Đẩu. Vì sao người kể chuyện nhận xét như vậy?

a) Từ nhiên anh rời chiếc bàn đến đứng vọt vào lưng ghế người đàn bà ngồi, giọng trở nên đầy giận dữ, khác hẳn với giọng một chánh án:

  • Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cả nước không có một người chống nào như hắn. Tôi chưa hỏi tội của hắn mà tôi chỉ muốn bảo ngay với chị: Chị không sống nổi với cái lão đàn ông vũ phu ấy đâu! Chị nghĩ thế nào?

Trả lời: Người kể chuyện nhận xét: "giọng trở nên đầy giận dữ, khác hẳn với giọng một chánh án". Người kể chuyện nhận xét như vậy vì ông Đẩu đã từ một người có thái độ lịch sự, nghiêm túc (giọng của một chánh án) chuyển sang thái độ giận dữ, gay gắt khi nói về người chồng của nhân vật bà cụ Dứ.

b) - Tuy bà! - Đầu thay đổi cách xưng hô, khoác lên mình cái cung cách bề ngoài của một vị chánh án. - Chủ trương nguyên tắc của chúng tôi là kêu gọi hòa thuận...

Trả lời: Người kể chuyện nhận xét: "Đầu thay đổi cách xưng hô, khoác lên mình cái cung cách bề ngoài của một vị chánh án". Điều này là do ông Đẩu đã chuyển từ thái độ cá nhân sang thái độ công việc, sử dụng ngôn ngữ mang tính khuôn mẫu của một người có chức quyền (chánh án) để biện hộ cho việc hòa giải.

Câu 3. Nhận diện, phân tích đặc điểm của ngôn ngữ trang trọng và ngôn ngữ thân mật ở các đoạn trích sau:

a) Học sinh, sinh viên, trí thức trẻ phải biết cách học để trở thành những công nhân giỏi, những kỹ sư, bác sĩ, cán bộ giảng dạy xuất sắc, cung cấp cho Nhà nước những cán bộ lãnh đạo, quản lý liêm khiết có trình độ cao, có tầm nhìn xa. Bản thân học sinh và sinh viên phải tự mình khắc phục những suy nghĩ lệch lạc, những tiêu cực của mình cũng như những tệ nạn xã hội đang diễn ra trên đất nước làm cho mọi người, kẻ cả thanh niên hết sức bất bình, căm giận. Thái độ đúng đắn của mỗi thanh niên là phải biết đấu tranh và vượt qua những yêu kém và tiêu cực đó bằng những hành động tích cực và bản lĩnh của người chủ xây dựng của đất nước. Đó là trách nhiệm và sứ mệnh của giới trẻ.

Trả lời:

  • Ngôn ngữ trang trọng:
    • "Học sinh, sinh viên, trí thức trẻ phải biết cách học...", "trách nhiệm và sứ mệnh của giới trẻ".
    • Đặc điểm:
      • Sử dụng từ ngữ chính xác, chuẩn mực.
      • Cấu trúc câu rõ ràng, mạch lạc.
      • Mang tính nghiêm túc, phù hợp với văn bản nghị luận, giáo dục.

b) Con gái yêu quý! Vậy là con gái của mẹ đã lớn thật rồi, cuối cùng cũng đến ngày con phải rời xa vòng tay mẹ để đi học xa nhà. Mẹ vẫn luôn nhớ như ngày đầu tiên con đi nhà trẻ, con khóc mà lòng mẹ xót xa. Mẹ biết con không còn mãi bé, cô gái của mẹ đã lớn và đến lúc con phải bay bằng chính đôi cánh của mình, trên bầu trời của con. Con hãy nhớ, cuộc sống không thể tránh khỏi những chông gai, nếu con coi đó là một trò chơi có mạo hiểm, con sẽ thấy nó thú vị, còn nếu con nhìn nó bằng con mắt của sự bi quan, sợ hãi, nó sẽ là con quái vật nuôi chui con lúc nào không hay. Chỉ khi con xung pha, trải nghiệm, con mới nhận được những điều giá trị con mong muốn. Con cũng hãy thoải mái tham gia các hoạt động cùng các bạn, làm tình nguyện, đi đến những nơi mà con muốn đến nhé!

(Nguyễn Thu Hà)

Trả lời:

  • Ngôn ngữ thân mật:
    • "Con gái yêu quý!", "Mẹ vẫn luôn nhớ như ngày đầu tiên con đi nhà trẻ".
    • Đặc điểm:
      • Sử dụng từ ngữ gần gũi, tình cảm (từ ngữ thân mật như "Con gái yêu quý!", "mẹ").
      • Cấu trúc câu linh hoạt, có yếu tố khẩu ngữ.
      • Mang tính ấm áp, gần gũi, phù hợp với văn bản tâm thư, thư từ.