Trang 54 — Thu vĩnh
Phân tích nét riêng trong cảnh và tình của bài Thu vĩnh.
Trả lời: Trong bài thơ Thu vĩnh, cảnh thu được khắc họa với nét riêng sâu sắc. Không gian thu được thể hiện với "sắc trời xanh ngắt mấy tầng cao", "đường nét đơn sơ", màu sắc "thanh đạm", không khí "hiu hắt", "ao thu nước biếc với sương khói phả nhạt nhòa". Hình ảnh trăng "thân mật và lặng lẽ" đến với thi nhân như một tri kỷ.
Về tình, bài thơ thể hiện nỗi "thẹn" của nhà thơ trước cảnh thu. Nỗi thẹn này không chỉ là sự khiêm tốn mà còn là cảm giác day dứt trong lòng khi đối diện với vẻ đẹp của thiên nhiên. Nhà thơ Nguyễn Khuyến đã thể hiện sự hòa quyện giữa cảnh vật và tâm trạng con người, tạo nên một bức tranh thu vừa thực vừa ảo.
Câu hỏi liên quan từ nội dung khác trên trang.
Trang 55 — Bài làm của học sinh, có chỉnh sửa
Câu 1. Phân tích nét riêng của bài Đây mùa thu tới trong sự đối sánh với bài Thu vịnh.
Trả lời: Bài thơ "Đây mùa thu tới" của Xuân Diệu và "Thu vịnh" của Nguyễn Khuyến đều là những bài thơ tả cảnh mùa thu nhưng mỗi bài có nét riêng biệt.
Trong khi "Thu vịnh" mang đậm sắc màu cổ điển với phong vị ẩn dật, "Đây mùa thu tới" lại thể hiện sự đối hiện đại và được thể hiện bằng những hình ảnh thơ giàu tính cảm giác, thấm đẫm tình đại và được thể hiện bằng những hình ảnh thơ giàu tính cảm giác, thấm đẫm tình đại và được thể hiện qua cảm nhận của một hồn thơ hiện cảm giác, thấm đẫm tình đại và được thể hiện bằng những hình ảnh thơ giàu tính cảm giác, thấm đẫm tình đại.
Cảnh thu trong thơ Nguyễn Khuyến vắng lặng, chỉ có cái tôi trữ tình của thi nhân đang trải lòng mình. Cảnh thu trong thơ Xuân Diệu cũng vắng vẻ đìu hiu, nhưng vẫn có bóng dáng con người, tất nhiên với Xuân Diệu phải là bóng dáng thiếu nữ.
Câu 2. Khẳng định vị trí, giá trị và sức hấp dẫn của hai bài thơ.
Trả lời: Tình thu của cụ Nguyễn buồn, xót xa, day dứt; tình thu của chàng thi sĩ Xuân Diệu có buồn, cô đơn, nhưng tràn đầy khao khát về sự sống trần thế, tha thiết giao cảm với đời. Quan điểm thẩm mĩ của Nguyễn Khuyến do vậy mang đậm sắc màu cổ điển và một phong vị ẩn dật, còn Xuân Diệu là một nhà thơ lãng mạn, một nhà thơ hiện đại với thế giới quan mới mẻ và bao nhiêu đổi thay trong nếp sống, nếp cảm để tạo nên những vần thơ lay thức các giác quan và rạo rực lòng người.
Câu 3. Nêu ý kiến khẳng định về kết quả và ý nghĩa của việc so sánh.
Trả lời: Hai bài thơ của Nguyễn Khuyến và Xuân Diệu cho đến nay đều là những thi phẩm đặc sắc về mùa thu của quê hương, đất nước Việt Nam, đem đến cho người đọc những cảm xúc tinh tế trước những hình ảnh đầy gợi cảm của thiên nhiên và những nỗi niềm, tâm sự gửi gắm trong đó. Cả hai tâm hồn lớn đều yêu tha thiết mùa thu của xứ Bắc, nhưng do điệu tâm hồn và quan điểm thẩm mĩ khác nhau mà cảnh thu, tình thu của mỗi bài thơ mang một vẻ đẹp riêng, bồi đắp cho mỗi chúng ta tình yêu quê hương xứ sở nồng nàn, sâu sắc.
Trang 56 — Thực hành viết
Câu 1. Trong bài viết, tác giả đã dựa trên những cơ sở nào khi chọn hai bài thơ để so sánh, đánh giá?
Trả lời: Tác giả đã dựa trên những cơ sở để triển khai các nội dung so sánh, gắn với đặc trưng của thể loại thơ (đề tài, phong cách sáng tác, bút pháp nghệ thuật,...). Từ những cơ sở đã xác định, cần lựa chọn các bài thơ tiêu biểu với những điểm tương đồng và khác biệt có ý nghĩa.
Câu 2. Bài viết triển khai các nội dung so sánh, đánh giá như thế nào? Bạn có nhận xét gì về hiệu quả của cách triển khai đó?
Trả lời: Bài viết triển khai các nội dung so sánh, đánh giá dựa trên:
- Phạm vi lựa chọn để so sánh, đánh giá rất mở và linh hoạt. Hai bài thơ đó có thể của hai tác giả hoặc của một tác giả.
- Xác định được các phương diện cần so sánh: đối tượng cụ thể được miêu tả, thể hiện, cảm hứng, cái nhìn nghệ thuật, bút pháp,...
- Một số đề tài gợi ý:
- So sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ thuộc các giai đoạn văn học, xu hướng văn học khác nhau: Tiếng nói tri âm trong Độc Tiểu Thanh kí (Nguyễn Du) và Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo);...
- So sánh, đánh giá bút pháp và cảm hứng nghệ thuật trong các tác phẩm thơ: Cảm hứng về đất nước trong Đất nước (Nguyễn Đình Thi) và Việt Bắc (Tố Hữu);...
- So sánh, đánh giá các hình tượng: Hình tượng người lính trong Đồng chí (Chính Hữu) và Tây Tiến (Quang Dũng); Hình tượng người phụ nữ trong Tự tình II (Hồ Xuân Hương) và Thuyền và biển (Xuân Quỳnh);...
- So sánh, đánh giá về hình thức nghệ thuật: Cách thể hiện nỗi nhớ trong Tây Tiến (Quang Dũng) và Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên);...
Nhận xét: Cách triển khai này giúp bài viết có tính hệ thống, logic và làm nổi bật được những điểm giống và khác nhau giữa hai bài thơ, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về các tác phẩm.
Câu 3. Theo bạn, có thể có những cách trình bày nào khác về các nội dung so sánh, đánh giá trong bài viết?
Trả lời: Có thể trình bày theo các cách khác như:
- So sánh, đánh giá hai bài thơ dựa trên cơ sở nào? Việc xác định cơ sở để so sánh, đánh giá dựa trên nội dung (hiện thực đời sống, tư tưởng, tình cảm của tác giả,...) và hình thức nghệ thuật của các tác phẩm (thể loại, ngôn ngữ, kết cấu, giọng điệu, hình ảnh, chi tiết, thủ pháp nghệ thuật,...). Chẳng hạn, trong hai bài thơ Thu vịnh và Đây mùa thu tới, tác giả so sánh, đánh giá cảm hứng mùa thu trong hai bài thơ và cách thể hiện (chọn hình ảnh, không gian,...).
Trang 60 — Soạn bài: Luyện tập so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ
Câu hỏi:
Điểm tương đồng giữa hai tác phẩm thơ là gì? Ở bài viết tham khảo, tác giả đã làm rõ điểm tương đồng trong cảm hứng mùa thu của hai bài thơ là cảnh thu đẹp và tình thu buồn, tất cả được thể hiện bằng những hình ảnh chấm phá, giàu sức gợi.
Đâu là điểm khác biệt giữa hai bài thơ? Ở bài viết tham khảo, tác giả đã phân tích sự khác biệt trong cảnh thu, tình thu của hai bài thơ; bút pháp miêu tả và quan điểm thẩm mĩ của hai tác giả trong hai thời đại.
Yếu tố nào tạo nên những điểm tương đồng và khác biệt của hai bài thơ? Điểm tương đồng và khác biệt thường xuất phát từ những yếu tố thuộc về đặc trưng của thơ ca và phong cách nghệ thuật riêng của mỗi nhà thơ, hoặc xu hướng và bút pháp thi ca của từng giai đoạn sáng tác. Ở bài viết tham khảo, tác giả đã phân tích, lí giải điểm tương đồng và khác biệt trong cảm hứng về cảnh thu, tình thu của hai bài thơ là sự đồng điệu của tâm hồn thi nhân trước vẻ đẹp của mùa thu đất nước; sự khác biệt là do hai nhà thơ thuộc hai thời đại, hai phong cách thơ.
Đánh giá thế nào về giá trị của mỗi bài thơ? Qua so sánh, bài viết tham khảo đã khẳng định vị trí, giá trị và sức hấp dẫn của hai bài thơ viết về mùa thu đối với người đọc bao thế hệ cũng như ý nghĩa của việc cảm nhận hai bài thơ từ góc độ so sánh.
Lập dàn ý
Từ hướng tìm ý nêu trên, cần xem xét, sắp xếp lại hệ thống ý thật hợp lí để có dàn ý hoàn chỉnh.
Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn về hai bài thơ và nêu cơ sở lựa chọn để so sánh, đánh giá.
Thân bài:
Có nhiều cách trình bày nội dung so sánh, đánh giá. Người viết cần linh hoạt trong việc lựa chọn cách trình bày phù hợp với hiểu biết và hứng thú của bản thân, điều này sẽ góp phần quan trọng vào thành công của bài viết. Có thể triển khai các nội dung so sánh, đánh giá theo những cách sau:
Cách 1: Lần lượt phân tích từng bài thơ, sau đó chỉ ra điểm tương đồng, sự gặp gỡ và những điểm khác biệt, lí giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt đó; đồng thời đánh giá về giá trị và đóng góp của mỗi bài thơ. Cách này dễ làm nhưng nhiều khi bị trùng lặp ý và mục đích so sánh không được làm nổi bật.
Cách 2: Phân tích bài thơ thứ nhất theo các phương diện đã xác định, khi phân tích bài thơ thứ hai sẽ so sánh với bài thơ thứ nhất theo từng phương diện và lí giải nguyên nhân của những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai bài thơ, từ đó, đánh giá về giá trị và đóng góp của mỗi bài thơ. Cách này cũng dễ thực hiện và tránh bị trùng lặp, thể hiện được ý so sánh, nhưng mạch so sánh khi trình bày bài thơ thứ nhất dễ bị chìm.
Cách 3: So sánh lần lượt các phương diện đã lựa chọn đối với hai bài thơ, chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt; lí giải nguyên nhân sự tương đồng và khác biệt đó; đánh giá về giá trị và đóng góp của mỗi bài thơ từ các nội dung so sánh. Cách này làm nổi bật được tính chất so sánh nhưng dễ làm mờ tính liên mạch, chính thể của mỗi bài thơ, đòi hỏi người viết phải có khả năng tư duy tổng hợp và lập luận chặt chẽ, có sự tinh nhạy trong phát hiện vấn đề.
Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của việc so sánh, đánh giá; nêu cảm nhận và ấn tượng của bản thân về các bài thơ.