Trang 65 —
Câu hỏi:
- Chính trị, tôi đề nghị các đồng chí trả lời câu hỏi: “Nếu đánh có chắc thắng trăm phần trăm không?”.
Trả lời:
Trong đoạn hội thoại, câu hỏi “Nếu đánh có chắc thắng trăm phần trăm không?” được đặt ra nhằm nhấn mạnh sự không chắc chắn của chiến thắng trong một cuộc chiến.
Anh Lê Liêm trả lời:
- “Anh Văn nêu câu hỏi thật khó trả lời. Ai dám bảo là sẽ chắc thắng trăm phần trăm!”
Điều này cho thấy rằng không ai có thể đảm bảo một chiến thắng tuyệt đối, bởi chiến tranh luôn chứa đựng nhiều yếu tố bất ngờ và rủi ro.
Anh Đăng Kim Giang tiếp tục nêu quan điểm:
- “Làm sao dám bảo dam như vậy!
- Tôi nghĩ với trận này, ta phải bảo đảm chắc thắng trăm phần trăm.”
Tuy nhiên, anh Hoàng Văn Thái lại có quan điểm thận trọng hơn:
- “Nếu yêu cầu chắc thắng trăm phần trăm thì khó...”
Ông cũng nhấn mạnh rằng cần có các biện pháp cụ thể để khắc phục khó khăn.
Từ những trao đổi này, có thể thấy rằng câu hỏi ban đầu không tìm kiếm một câu trả lời có thể là tuyệt đối mà là sự chuẩn bị kỹ lưỡng và khả năng ứng phó với các tình huống phát sinh trong chiến tranh.
Trang 66 —
Câu hỏi:
- Rõ! - Anh Vũ đáp.
- Triệt để chấp hành mệnh lệnh!
- Xin chỉ thị về sử dụng binh lực như thế nào?
- Toàn quyền quyết định, từ một tiểu đoàn đến toàn đại đoàn. Hậu cần tự giải quyết. Đúng 4 giờ chiều nay, xuất phát!
- Xin triệt để chấp hành mệnh lệnh.
Đồng thời, tôi chỉ thị cho một bộ phận nhỏ, mang theo một đài vô tuyến điện, đi về phía Mộc Châu, mỗi ngày ba lần đánh điện báo cáo: "Đại đoàn 308 đã về tới...". Điện mặt, xen dồi tiếng không dùng mật mã. Vì có những bức điện này, lúc đầu, địch tưởng 308 đang quay về đồng bằng.
Tình hình lúc này không cho phép dùng điện đài báo cáo với Trung ương, ngay tối hôm đó tôi viết thư hỏa tốc thỉnh nghị với Bộ Chính trị và Bác cho chuyển sang phương châm "Đánh chắc tiến chắc" quyết giành thắng lợi, nhưng chiến dịch sẽ phải kéo dài, cần khắc phục những khó khăn lớn về hậu cần. Đồng chí Nguyễn Công Dinh, một cán bộ tác chiến, được lệnh dùng chiếc xe Díp (Jeep) duy nhất của cơ quan tham mưu, mang thư đi gặp suốt ngày đêm về khu căn cứ.
Trong ngày hôm đó, tôi đã thực hiện được một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình.
Chỉ mười năm sau, nhân dịp kỉ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ, một số đồng chí phụ trách các đại đoàn mới nói thực với tôi ý nghĩ của minh. Chính ủy đại đoàn
Trả lời:
Tuy nhiên, có thể rút ra một số ý chính từ đoạn văn:
- Câu hỏi tiềm ẩn 1: Nêu ý chính của đoạn văn.
Trả lời: Đoạn văn nói về Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các tướng lĩnh quân đội Việt Nam hoạch định kế hoạch tấn công Điện Biên Phủ tháng 3-1954. Trong đó, tác giả đề cập đến một số vấn đề về chiến thuật, hậu cần và quyết định khó khăn trong cuộc đời chỉ huy của mình.
- Câu hỏi tiềm ẩn 2: Ý nghĩa của việc sử dụng phương châm "Đánh chắc tiến chắc" trong chiến dịch.
Trả lời: Phương châm "Đánh chắc tiến chắc" thể hiện sự thay đổi trong chiến lược của quân đội Việt Nam, từ việc giành thắng lợi nhanh chóng sang việc đảm bảo chắc chắn và bền vững. Điều này nhằm khắc phục những khó khăn lớn về hậu cần và đảm bảo sự thành công của chiến dịch.
- Câu hỏi tiềm ẩn 3: Nêu một số khó khăn mà quân đội Việt Nam gặp phải trong chiến dịch.
Trả lời: Một số khó khăn mà quân đội Việt Nam gặp phải trong chiến dịch bao gồm:
Khó khăn về hậu cần.
Sự phản đối và khó khăn trong việc triển khai chiến thuật.
Câu hỏi tiềm ẩn 4: Ý nghĩa của quyết định khó khăn trong cuộc đời chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Trả lời: Quyết định khó khăn trong cuộc đời chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thể hiện sự hy sinh, trí tuệ và lòng quyết tâm của ông trong việc bảo vệ đất nước. Quyết định này cũng thể hiện sự thay đổi trong chiến lược và cách thức hành động của quân đội Việt Nam.
Trang 67 — Quyết định khó khăn nhất
Câu 1. Văn bản kể lại sự kiện gì? "Quyết định khó khăn nhất" ở đây là gì? Ai là người kể lại?
Trả lời: Văn bản kể lại sự kiện về một quyết định khó khăn trong chiến dịch Điện Biên Phủ, liên quan đến việc thay đổi phương châm tác chiến từ "đánh nhanh, thắng nhanh" sang một phương án khác. "Quyết định khó khăn nhất" ở đây là quyết định thay đổi phương châm tác chiến.
Người kể lại là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người trực tiếp tham gia và lãnh đạo trong chiến dịch này.
Câu 2. Dẫn ra một số câu văn cho thấy thái độ và suy nghĩ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong hoàn cảnh phải đưa ra "Quyết định khó khăn nhất".
Trả lời: Đại tướng Võ Nguyên Giáp thể hiện thái độ và suy nghĩ của mình qua các câu văn sau:
- "Khi có lệnh kéo pháo ra, đúng là: 'Được lời như có lối tâm hồn!'" - Thể hiện sự vui mừng và đồng tình với quyết định.
- "Nếu không có quyết định chuyển phương châm ngày đó thì phần lớn chúng tôi sẽ không có mặt trong kháng chiến chống Mỹ." - Cho thấy sự nhận thức về tầm quan trọng của quyết định.
- "Tôi nghĩ nếu lần đó cứ 'đánh nhanh, giải quyết nhanh' thì cuộc kháng chiến có thể lui lại mười năm!" - Thể hiện sự băn khoăn và tầm nhìn xa.
Câu 3. Tính xác thực của thể loại hồi ký được thể hiện qua những yếu tố nào của văn bản?
Trả lời: Tính xác thực của thể loại hồi ký được thể hiện qua:
- Ngôn ngữ và giọng điệu cá nhân: Văn bản sử dụng ngôi thứ nhất (tôi) và trích dẫn trực tiếp các câu nói của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tạo cảm giác gần gũi và chân thực.
- Chi tiết cụ thể: Văn bản đề cập đến các sự kiện và nhân vật cụ thể như "Đại đoàn trưởng 312 Lê Trọng Tấn", "Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ", và các con số cụ thể về vũ khí, giúp người đọc hình dung rõ hơn về bối cảnh.
- Thời gian và địa điểm: Văn bản đề cập đến chiến dịch Điện Biên Phủ, một sự kiện lịch sử quan trọng.
Câu 4. Hãy nhận xét về thủ pháp trần thuật ở phần 2 của văn bản.
Trả lời: Thủ pháp trần thuật ở phần 2 của văn bản chủ yếu là trích dẫn trực tiếp. Đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn lại các câu nói của các đại đoàn trưởng khác như Lê Trọng Tấn, Vương Thừa Vũ, và Phạm Ngọc Mậu. Thủ pháp này giúp:
- Tăng tính xác thực và độ tin cậy của câu chuyện.
- Thể hiện rõ ràng quan điểm và thái độ của các nhân vật trong hoàn cảnh cụ thể.
- Làm nổi bật sự khó khăn và tầm quan trọng của quyết định.
Câu 5. Theo em, tại sao Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng việc thay đổi phương châm tác chiến là "Quyết định khó khăn nhất"?
Trả lời: Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng việc thay đổi phương châm tác chiến là "Quyết định khó khăn nhất" vì:
- Quyết định này liên quan trực tiếp đến chiến lược và vận mệnh của cuộc kháng chiến.
- Việc thay đổi phương châm có thể gặp nhiều phản đối và nghi ngờ từ các cấp dưới, như thể hiện qua các câu nói được trích dẫn.
Câu 6. Bài học sâu sắc đặt ra trong văn bản là gì? Điều đó có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc sống hôm nay?
Trả lời: Bài học sâu sắc đặt ra trong văn bản là:
- Tầm quan trọng của việc đưa ra quyết định đúng đắn trong những tình huống khó khăn.
- Sự cần thiết của dân chủ nội bộ và lắng nghe ý kiến khác biệt.
Điều này có ý nghĩa đối với cuộc sống hôm nay ở chỗ:
- Giúp con người nhận thức được giá trị của sự linh hoạt và sáng tạo trong việc giải quyết vấn đề.
- Khuyến khích tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
- Nhấn mạnh vai trò của sự đoàn kết và thống nhất trong tổ chức.
Trang 68 — Ngôn ngữ trang trọng và ngôn ngữ thân mật
Câu 1. Văn bản Nhật kí Đặng Thùy Trâm có sự kết hợp giữa ngôn ngữ trang trọng và ngôn ngữ thân mật. Em hãy chỉ ra những đặc điểm của hai kiểu ngôn ngữ này trong đoạn trích sau:
a) Ai lại không tha thiết với mùa xuân, ai lại không muốn cái sáng ngời trong đôi mắt và trên đôi môi căng mọng khi cuộc đời còn là tuổi hai mươi? Như... tuổi hai mươi của thời đại này đã phải đẹp lại những ước mơ hạnh phúc mà lẽ ra họ phải có... Ước mơ bây giờ là đánh thắng giặc Mỹ, là Độc lập, Tự do của đất nước. Từ ước mơ đó mới có được những gì gọi là của riêng mình. Mình cũng như những thanh niên khác đã lên đường ra tiền tuyến, và tuổi trẻ qua đi giữa tiếng bom rơi đạn nổ.
b) Được thư mẹ... Mẹ của con ơi, mỗi dòng chữ, mỗi lời nói của mẹ thắm nặng yêu thương, như những dòng máu chảy về trái tim khao khát nhớ thương của con. Ôi! Có ai hiểu lòng con ao ước được về sống giữa gia đình, dù chỉ là giây lát đến mức nào không? Con vẫn hiểu điều đó từ lúc bước chân lên chiếc ô tô đưa con vào con đường bom đạn.
Trả lời:
a) Đoạn trích a) sử dụng ngôn ngữ trang trọng, thể hiện qua:
- Từ ngữ chính thống, mang tính kêu gọi: Ai lại không tha thiết..., Ai lại không muốn..., thể hiện sự hào hùng, thiêng liêng.
- Sử dụng các cụm từ mang tính thời đại: tuổi hai mươi của thời đại này, đánh thắng giặc Mỹ, Độc lập, Tự do của đất nước, tạo không khí hào hùng của thời kì chiến tranh.
- Cách diễn đạt chuẩn mực, phù hợp với văn phong nghị luận.
b) Đoạn trích b) sử dụng ngôn ngữ thân mật, thể hiện qua:
- Cách gọi thân mật: Mẹ của con ơi, thể hiện tình cảm gia đình.
- Từ ngữ giàu cảm xúc: thắm nặng yêu thương, khao khát nhớ thương, mang tính cá nhân.
- Câu cảm thán: Ôi! và câu hỏi tu từ: Có ai hiểu lòng con... không? tạo sự gần gũi.
Câu 2. Em hãy tìm những câu văn trong văn bản Khúc tráng ca nhà giàn (Xuân Ba) thể hiện thái độ và cảm xúc của tác giả đối với những cán bộ, chiến sĩ ngày đêm bám trụ ở nhà giàn giữa biển khơi. Những câu văn ấy mang màu sắc trang trọng hay thân mật? Vì sao?
Trả lời:
- Những câu văn thể hiện thái độ và cảm xúc:
- Họ là những con người bé nhỏ giữa đại dương, nhưng họ là những con người vĩ đại.
- Họ là những người làm chủ biển đảo.
Màu sắc trang trọng, vì:
- Từ ngữ mang tính ca ngợi: con người vĩ đại, làm chủ biển đảo.
- Cách diễn đạt chuẩn mực, mang tính chính luận.
Câu 3. Các đoạn văn dưới đây đã sử dụng ngôn ngữ trang trọng và ngôn ngữ thân mật phù hợp chưa? Vì sao?
a) Con hổ dùng những cái vuốt nhọn hoắt cầu vào người, vào mặt Viễn... Nhưng Viên vẫn rắn sức quann nhau với chú hổ.
(Dẫn theo Nguyễn Đức Dân)
b) Lời nhận xét ấy có đúng không? Đúng quá đi chứ! Nào, bạn hãy cùng tôi đi phân tích tác phẩm để hiểu rõ vấn đề.
(Dẫn theo Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp)
c) Trước lúc đi ngủ, Sán tâm sự với tôi:
- Cháu bị số phận hắt hủi. Giờ thì cả cha và mẹ đều không còn. Cuộc sống của cháu không còn ý nghĩa gì nữa.
Trả lời:
a) Chưa phù hợp:
- Con hổ... → thân mật, gần gũi nhưng rắn sức quần nhau → không trang trọng.
b) Phù hợp:
- Trang trọng: Lời nhận xét ấy có đúng không?
- Thân mật: Đúng quá đi chứ! Nào, bạn hãy cùng tôi...
c) Phù hợp:
- Trang trọng: Trước lúc đi ngủ
- Thân mật: tâm sự, số phận hắt hủi (gần gũi), Giờ thì... không còn