Trang 65 — Lập luận trong văn bản nghị luận

Câu hỏi:

  • Nhận biết, phân tích được nội dung của luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu, độc đáo trong văn bản; chỉ ra mối liên hệ của chúng; đánh giá được mức độ phù hợp giữa nội dung nghị luận với nhan đề của văn bản.
  • Nhận biết được mục đích của người viết, biết tiếp nhận, đánh giá, phê bình nội dung văn bản với tư duy phê phán, dựa trên trải nghiệm và quan điểm của người đọc.
  • Phân tích và đánh giá được việc sử dụng một số thao tác như chứng minh, bình luận, bác bỏ, giải thích, phân tích, so sánh trong văn bản nghị luận.
  • Nhận biết được lỗi logic và lỗi câu mơ hồ, biết cách sửa lỗi và rút kinh nghiệm.
  • Viết được bài văn nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ (quan niệm sống, định hướng tương lai, cách ứng xử trong các mối quan hệ,...).
  • Biết thuyết trình về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ.
  • Có ý thức bảo tồn và phát huy các giá trị của văn hoá dân tộc.

TRI THỨC NGỮ VĂN

Lập luận trong văn bản nghị luận

Lập luận là sử dụng lí lẽ và bằng chứng để thuyết phục người đọc về một vấn đề. Giá trị của văn bản nghị luận được quyết định bởi ý nghĩa của vấn đề đặt ra (luận đề) và nghệ thuật lập luận (cách dùng lí lẽ và bằng chứng) của người viết.

Các thao tác được sử dụng trong văn bản nghị luận

Văn bản nghị luận thường dùng các thao tác như chứng minh, bình luận, bác bỏ để phục vụ trực tiếp cho mục đích thuyết phục. Chứng minh là dùng lí lẽ và bằng chứng giúp người đọc thấy rằng ý kiến được nêu là hoàn toàn có cơ sở, đáng tin cậy. Tùy theo đề tài cụ thể, người viết chọn bằng chứng từ thực tế cuộc sống hoặc từ tài liệu khoa học, báo chí, tác phẩm văn học, nghệ thuật,... Bình luận là đánh giá về sự đúng – sai, hay – dở,


Trang 66 — Lỗi logic của câu

Trang này chỉ chứa lý thuyết thuần về các thao tác trong văn nghị luận, lỗi logic của câu và cách hiểu một số thuật ngữ liên quan.


Trang 67 — Nhìn về vốn văn hoá dân tộc

Câu 1. Trong lúc chờ đợi kết luận khoa học của các ngành chuyên môn, chúng tôi xin đưa ra một số nhận xét về vài ba mặt của cái vốn văn hoá dân tộc; không phải cái hình thành vào thời kì định hình mà là cái ổn định dần, tồn tại cho đến trước thời cận – hiện đại. Chúng tôi không nghĩ đó là đặc sắc văn hoá dân tộc nhưng chắc chắn có liên quan gần gũi với nó.

Trả lời: Câu hỏi không yêu cầu trả lời.


Câu 2.

  • Hãy chia sẻ hiểu biết của bạn về một số di tích văn hoá tiêu biểu của nước ta. Theo bạn, đặc điểm nổi bật ở những di tích ấy là gì?
  • Trong xu thế hội nhập hiện nay, vì sao người Việt Nam cần có hiểu biết về văn hoá truyền thống của dân tộc mình?

Trả lời:

  1. Một số di tích văn hóa tiêu biểu của nước ta và đặc điểm nổi bật:

    • Di tích văn hóa:

      • Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh): Di sản thiên nhiên thế giới với hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ, nổi tiếng với vẻ đẹp ngoạn mục của núi non và biển cả.
      • Đền Văn Miếu - Hoàng Thành Thăng Long (Hà Nội): Di tích lịch sử và văn hóa quan trọng, biểu tượng cho nền giáo dục và văn hóa Việt Nam.
      • Phố cổ Hội An (Quảng Nam): Một trong những đô thị cổ kính nhất, thể hiện sự giao thoa văn hóa và kiến trúc độc đáo.
    • Đặc điểm nổi bật:

      • Giá trị lịch sử: Những di tích này là minh chứng sống cho nền văn minh, lịch sử lâu đời và phong phú của dân tộc.
      • Giá trị văn hóa: Chúng phản ánh lối sống, tín ngưỡng, nghệ thuật và sự sáng tạo của người Việt qua các thời kỳ.
      • Giá trị thẩm mỹ: Các di tích mang đến vẻ đẹp độc đáo, thu hút khách du lịch và làm giàu thêm văn hóa dân tộc.
  2. Tầm quan trọng của việc hiểu biết văn hóa truyền thống trong xu thế hội nhập:

    • Bản sắc dân tộc: Hiểu biết về văn hóa truyền thống giúp người Việt Nam bảo vệ và phát huy bản sắc dân tộc, không bị hòa nhập vào quá trình toàn cầu hóa một cách mất gốc.
    • Phát triển bền vững: Nhận thức về văn hóa truyền thống tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững, giúp dân tộc không đánh mất giá trị cốt lõi trong quá trình hội nhập quốc tế.
    • Tăng cường giao lưu văn hóa: Hiểu rõ văn hóa của mình giúp người Việt Nam có thể giao lưu văn hóa hiệu quả với các quốc gia khác, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước.

“Trong lúc chờ đợi kết luận khoa học của các ngành chuyên môn, chúng tôi xin đưa ra một số nhận xét về vài ba mặt của cái vốn văn hoá dân tộc; không phải cái hình thành vào thời kì định hình mà là cái ổn định dần, tồn tại cho đến trước thời cận – hiện đại. Chúng tôi không nghĩ đó là đặc sắc văn hoá dân tộc nhưng chắc chắn có liên quan gần gũi với nó.”

Trả lời:

  • Câu này nêu tiền đề khi tác giả đưa ra nhận định về vốn văn hóa dân tộc. Tác giả nhấn mạnh rằng:
    • Những nhận xét của ông không dựa trên kết luận khoa học cuối cùng từ các ngành chuyên môn.
    • Ông tập trung vào “cái vốn văn hóa dân tộc” đã ổn định dần và tồn tại đến trước thời cận – hiện đại.
    • Tác giả khẳng định những yếu tố này không phải là đặc sắc văn hóa dân tộc nhưng có mối liên hệ gần gũi và đóng vai trò nền tảng.

“Giả khoa học (tiếng Anh: pseudoscience): còn gọi là nguy khoa học, chỉ các bộ môn không phải khoa học, nhưng có bề ngoài giống như khoa học.”

Trả lời:

  • Giả khoa học (pseudoscience): Là các học thuyết, phương pháp nghiên cứu không dựa trên phương pháp khoa học mà chỉ có hình thức bề mặt giống như khoa học. Chúng thường không thể kiểm chứng hoặc không có cơ sở lý luận vững chắc.

**“Giữa các dân tộc, chúng ta không thể tự hào là nền văn hoá của ta đồ sộ, có những cống hiến lớn lao cho nhân loại, hay có những đặc sắc nổi bật. Ở một số dân tộc hoặc là một tôn giáo, hoặc là một trường phái triết học, một ngành khoa học, một nền âm nhạc, hội hoạ,.. phát triển rất cao, ảnh hưởng phổ biến và lâu dài đến toàn bộ văn hoá, thành đặc sắc văn hoá của dân tộc đó, thành thiên hướng văn hoá của dân tộc đó. Ở ta, thần thoại không phong phú – hay là có nhưng một thời gian nào đó đã mất hứng thú lưu truyền? Tôn giáo hay triết học cũng đều không phát triển. Người Việt Nam không có tâm lí kiến thành(1), cưỡng tín tôn giáo, mà cũng không say mê tranh biện triết học. Các tôn giáo đều có mặt, nhưng thường là biến thành một lối thờ cúng, ít ai quan tâm đến giáo lí. Không có một ngành khoa học, kĩ thuật, giả khoa học(2) nào phát triển”

Trả lời:

  • Luận điểm chính:

    • Tác giả nhấn mạnh rằng văn hóa Việt Nam không có những cống hiến đồ sộ hay đặc sắc nổi bật như các nền văn hóa khác trên thế giới.
    • Việt Nam không có một tôn giáo, triết học, hay ngành khoa học nào phát triển vượt bậc và ảnh hưởng lâu dài đến văn hóa.
  • Dẫn chứng:

    • Thần thoại: Không phong phú hoặc đã mất đi sự quan tâm trong quá trình lưu truyền.
    • Tôn giáo và triết học: Không phát triển mạnh, chủ yếu dừng ở mức độ thờ cúng và tín ngưỡng phổ thông.
    • Khoa học và kỹ thuật: Không có ngành khoa học hoặc giả khoa học đặc sắc.
  • Ý nghĩa:

    • Tác giả nhấn mạnh đến sự khiêm tốn trong việc đánh giá văn hóa dân tộc, đồng thời chỉ ra những hạn chế trong vốn văn hóa Việt. Điều này làm nổi bật sự cần thiết phải hiểu và phát huy những giá trị cốt lõi hiện có.

Trang 68 — [Phân tích đặc điểm văn hóa của người Việt Nam qua đoạn trích]

Câu hỏi:

  • Xác định các CÂU HỎI/YÊU CẦU trong trang
  • Trả lời câu hỏi/soạn bài đầy đủ.

1. Câu hỏi:

  • Xác định các CÂU HỎI/YÊU CẦU trong trang (thường bắt đầu: "Câu 1", "Đọc hiểu", "Sau khi đọc", "Chuẩn bị", "Suy ngẫm và phản hồi", "Trả lời câu hỏi", "Viết", "Nói và nghe", "Luyện tập"...).

Trang 68 — [Phân tích đặc điểm văn hóa của người Việt Nam qua đoạn trích]

Câu 1. Thực tế đó cho ta biết khuynh hướng, hứng thú, sự ưa thích, nhưng hơn thế, còn cho ta biết sự hạn chế của trình độ sản xuất, của đời sống xã hội. Đó là văn hóa của dân nông nghiệp định cư, không có nhu cầu lưu chuyển, trao đổi, không có sự kích thích của đô thị. [...]

Trả lời:

  • Câu hỏi không có trong đoạn văn.

Câu 2. Người Việt Nam có thể có ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, ma quý, thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình. Tuy là coi trọng hiện thế nhưng cũng không bám lấy hiện thế, không quá sợ hãi cái chết (sống gửi thác về). Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung, giàu sang chỉ là tạm thời, tham lam giành giật cho nhiều cũng không giữ mãi mà hưởng được. Người ta mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn cho no đủ, sống thanh nhàn, thông thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người. Con người được ưa chuộng là con người hiền lành, tình nghĩa. Không chuộng trí mà cũng không chuộng đứng. Dân tộc chống ngoại xâm liên tục nhưng không thương vong. [...] Trong tâm trí nhân dân thường có Thần và Bụt mà không có Tiên. Thần uy linh bảo quốc hộ dân và Bụt hay cứu giúp mọi người; còn Tiên nhiều phép lạ, ngao du ngoài thế giới thì xa lạ. Không cả tu sĩ tu từ mà cả tu sĩ khổ hạnh. Khôn khéo là ăn di trước, lợi nước theo sau, biết thủ thế, giữ mình, gỡ được tình thế khó khăn. Đối với cái dị, cái mới, không dễ hò hợp nhưng cũng không cực tuyệt đến cùng, chấp nhận cái gì vừa phải, hợp với mình nhưng cũng chần chừ, dè dặt, giữ mình.

Trả lời:

  • Câu hỏi không có trong đoạn văn.

Cách nói có tính khẳng định của tác giả về các nội dung được bàn luận.

Trả lời:

Tác giả đã thể hiện cách nói có tính khẳng định khi bàn luận về các đặc điểm văn hóa của người Việt Nam qua những luận điểm rõ ràng và dẫn chứng cụ thể:

  1. Văn hóa của dân nông nghiệp định cư:

    • "Thực tế đó cho ta biết khuynh hướng, hứng thú, sự ưa thích, nhưng hơn thế, còn cho ta biết sự hạn chế của trình độ sản xuất, của đời sống xã hội. Đó là văn hóa của dân nông nghiệp định cư, không có nhu cầu lưu chuyển, trao đổi, không có sự kích thích của đô thị."
  2. Ít tinh thần tôn giáo, coi trọng hiện thế:

    • "Người Việt Nam có thể có ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế hơn thế giới bên kia."
  3. Quan niệm về cuộc sống và cái chết:

    • "Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, ma quý, thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình."
  4. Ý thức về cá nhân và sở hữu:

    • "Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung, giàu sang chỉ là tạm thời, tham lam giành giật cho nhiều cũng không giữ mãi mà hưởng được."
  5. Mong ước về hạnh phúc:

    • "Người ta mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn cho no đủ, sống thanh nhàn, thông thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người."
  6. Quan niệm về con người được ưa chuộng:

    • "Con người được ưa chuộng là con người hiền lành, tình nghĩa. Không chuộng trí mà cũng không chuộng đứng."
  7. Tinh thần chống ngoại xâm:

    • "Dân tộc chống ngoại xâm liên tục nhưng không thương vong."
  8. Tư duy tôn giáo:

    • "Trong tâm trí nhân dân thường có Thần và Bụt mà không có Tiên. Thần uy linh bảo quốc hộ dân và Bụt hay cứu giúp mọi người; còn Tiên nhiều phép lạ, ngao du ngoài thế giới thì xa lạ."
  9. Cách sống khôn khéo:

    • "Khôn khéo là ăn di trước, lợi nước theo sau, biết thủ thế, giữ mình, gỡ được tình thế khó khăn."

Những luận điểm trên cho thấy tác giả đã khẳng định các đặc điểm văn hóa của người Việt Nam một cách rõ ràng và có dẫn chứng cụ thể, thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về bản sắc văn hóa dân tộc.