Trang 9 — Hướng dẫn sử dụng sách giáo khoa

Câu 1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm đưa đến những thông tin khái quát về tác giả, thể loại và xuất xứ của tác phẩm, giúp bạn có thêm căn cứ để đánh giá văn bản vừa đọc một cách toàn diện.

Trả lời: Việc giới thiệu tác giả và tác phẩm giúp người đọc hiểu rõ bối cảnh, phong cách và mục đích sáng tác. Điều này tạo nền tảng để đánh giá văn bản một cách khách quan và toàn diện, tránh những nhận định phiến diện hoặc cảm tính. Như vậy, giới thiệu tác giả và tác phẩm là bước khởi đầu quan trọng trong quá trình đọc và phân tích văn học.

Câu 2. Yêu cầu sau khi đọc (kèm logo) gồm hệ thống câu hỏi và yêu cầu thuộc nhiều cấp độ nhận thức, hướng dẫn bạn tìm hiểu văn bản đúng trọng tâm và hướng theo yêu cầu cần đạt của bài học.

Trả lời: Hệ thống câu hỏi và yêu cầu sau khi đọc được thiết lập nhằm:

  • Kiểm tra khả năng hiểu và ghi nhớ nội dung chính của văn bản.
  • Phát triển tư duy phân tích, đánh giá các vấn đề văn học.
  • Hướng dẫn người học liên hệ và vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

Điều này giúp người học tiếp cận văn bản một cách có hệ thống, thay vì chỉ dừng lại ở việc đọc thụ động.

Câu 3. Kết nối đọc – viết nêu yêu cầu viết ngắn, tạo cho bạn thói quen ghi nhanh những ấn tượng, cảm nhận, suy nghĩ của mình về văn bản vừa đọc.

Trả lời: Việc kết nối đọc và viết giúp người học:

  • Rèn luyện khả năng tư duy phản biện và sáng tạo.
  • Tập dượt diễn đạt ý tưởng một cách mạch lạc, logic.
  • Phát triển thói quen phản ứng với văn học một cách kịp thời và hiệu quả.

Câu 4. Thực hành tiếng Việt lưu ý bạn về các hiện tượng ngôn ngữ trong văn bản đọc cần được tìm hiểu sâu, giúp bạn củng cố hoặc làm giàu thêm kiến thức về tiếng Việt để đọc, viết, nói và nghe một cách tích cực, hiệu quả.

Trả lời: Việc thực hành tiếng Việt giúp người học:

  • Nhận diện và hiểu rõ các hiện tượng ngôn ngữ đặc trưng trong văn học.
  • Cải thiện kỹ năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp và học tập.
  • Hiểu sâu hơn về cấu trúc và chức năng của ngôn ngữ trong văn chương.

Câu 5. Viết nêu kiểu bài, yêu cầu chung của kiểu bài, bài viết tham khảo và những hướng dẫn cụ thể về quy trình viết. Bài viết tham khảo được đưa ra kèm một số chỉ dẫn, giúp bạn hiểu rõ cách triển khai bài viết để đáp ứng yêu cầu của kiểu bài.

Trả lời: Phần hướng dẫn viết nhằm:

  • Cung cấp mô hình bài viết cụ thể cho từng kiểu bài.
  • Hướng dẫn chi tiết cách triển khai ý tưởng và tổ chức nội dung.
  • Giúp người học nắm bắt yêu cầu cơ bản và nâng cao của một bài viết.

Điều này hỗ trợ người học phát triển kỹ năng viết một cách bài bản và hiệu quả.


Nói và nghe

Câu 1. Nói và nghe gồm những nhân đề cho biết nội dung cụ thể của hoạt động, yêu cầu chung của kiểu bài nói và những hướng dẫn chi tiết về cách thực hiện (chuẩn bị nói; thực hành nói; trao đổi, đánh giá).

Trả lời: Nói và nghe là một phần quan trọng trong chương trình học, giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giao tiếp. Nội dung này bao gồm các nhân đề chính như:

  • Xác định mục đích và bối cảnh nói
  • Tìm hiểu đặc điểm của người nghe
  • Chuẩn bị nội dung và phương tiện hỗ trợ
  • Thực hành nói và nghe trong các tình huống giao tiếp khác nhau

Thực hành nói

Câu 2. Thực hành đọc đưa ra một văn bản cùng loại hay thế loại với các văn bản đọc chính và một số gợi ý, yêu cầu bạn tự đọc theo hướng dẫn, trên cơ sở vận dụng kiến thức và kĩ năng đọc đã hình thành trước đó.

Trả lời: Thực hành đọc là một bước quan trọng để củng cố và mở rộng kiến thức. Học sinh cần:

  • Đọc kỹ văn bản và hiểu rõ nội dung chính
  • Xác định các từ khóa và ý nghĩa của chúng
  • Thực hành trả lời các câu hỏi liên quan đến văn bản

Củng cố, mở rộng

Câu 3. Củng cố, mở rộng là phần đặt cuối bài học, giúp bạn ôn lại những điều đã được học và rèn luyện, đòi hỏi bạn mở rộng vốn đọc và biết vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực hành viết, nói và nghe theo một số đề tài mới.

Trả lời: Phần củng cố và mở rộng giúp học sinh:

  • Hệ thống hóa kiến thức đã học
  • Rèn luyện kỹ năng viết, nói và nghe
  • Phát triển khả năng tư duy và sáng tạo

Ôn tập học kì

Câu 4. Ôn tập học kì là phần đặt cuối mỗi tập, gồm hai nội dung chính: hệ thống hoán những nội dung đã học và thực hành luyện tập, vận dụng theo một số dạng đề mang tính tổng hợp, đòi hỏi bạn huy động đồng thời các kiến thức và kĩ năng đọc, viết để thực hiện những yêu cầu đặt ra.

Trả lời: Ôn tập học kì giúp học sinh:

  • Tổng hợp kiến thức đã học trong học kì
  • Luyện tập và vận dụng kiến thức vào các dạng đề khác nhau

Bảng tra cứu

Câu 5. Cuối sách có bốn bảng tra cứu hỗ trợ bạn tìm hiểu những thuật ngữ, yếu tố Hán Việt, tên riêng nước ngoài xuất hiện trong các bài học của mỗi tập.

Trả lời: Bảng tra cứu giúp học sinh:

  • Tìm hiểu nghĩa của các thuật ngữ mới
  • Giải thích các yếu tố Hán Việt và tên riêng nước ngoài

Logo sử dụng trong sách

  • Khởi động:
  • Đọc văn bản:
  • Thực hiện các yêu cầu sau khi đọc văn bản:
  • Thực hiện các yêu cầu sau khi đọc bài viết tham khảo:

Trả lời: Các logo này giúp học sinh nhận biết các phần khác nhau trong sách và dễ dàng sử dụng.


Trang 11 — Khả năng lớn lao của tiểu thuyết

Câu hỏi yêu cầu cần đạt:

  • Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của tiểu thuyết hiện đại như: ngôn ngữ, diễn biến tâm lí, hành động của nhân vật,...
  • Phân tích được đề tài, câu chuyện, sự kiện, nhân vật, các chi tiết tiêu biểu và mối quan hệ của chúng trong tính chỉnh thể của tác phẩm tiểu thuyết; phân tích và đánh giá được sự phù hợp của người kể chuyện, điểm nhìn trong việc thể hiện chủ đề của văn bản.
  • Nhận biết được những đặc điểm cơ bản của phong cách hiện thực trong tiểu thuyết và trong sáng tác văn học nói chung.
  • Nhận biết và phân tích được đặc điểm, tác dụng của biện pháp tu từ nói mỉa, nghịch ngữ.
  • Viết được bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện.
  • Biết trình bày (dưới hình thức nói) kết quả so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện.
  • Biết xây dựng các chuẩn mực giá trị trong cuộc sống; hiểu và đồng cảm với những nỗi buồn thể hiện nhân tình và khát vọng hướng tới sự hoàn thiện của con người.

Trả lời: Các yêu cầu trên được đặt ra để giúp học sinh hiểu rõ về tiểu thuyết hiện đại, các yếu tố cấu thành và cách phân tích một tác phẩm tiểu thuyết. Đồng thời, yêu cầu cũng nhấn mạnh vào việc phát triển kỹ năng viết và trình bày bài văn nghị luận so sánh, đánh giá.

TRI THỨC NGỮ VĂN

Tiểu thuyết hiện đại

Tiểu thuyết là loại tác phẩm tự sự quy mô lớn, có khả năng thể hiện các nội dung đa dạng và bao quát một phạm vi hiện thực rất rộng, trải ra trên nhiều không gian, thời gian khác nhau nhưng đều chỉ nhằm vạch rõ những định dạng sự chú ý đặc biệt cho đời tư hay số phận của con người cá nhân. Từ những hình thái đầu tiên xuất hiện ở thời cổ đại, tiểu thuyết phát triển theo nhiều hướng khác nhau, tùy thuộc vào những tiến bộ lịch sử, xã hội, văn hóa, thẩm mỹ nhất định. Đến thời cận đại, hiện đại, tiểu thuyết đạt được bước tiến lớn, trở thành một thể loại chính của đời sống văn học và tác động mạnh mẽ đến sự biến đổi, phát triển của nhiều thể loại khác.

Tiểu thuyết hiện đại là loại tiểu thuyết thể hiện một cách tư duy mới, mang tính hiện đại về đời sống, phân biệt với tiểu thuyết cổ điển ra đời trước thời đại tư bản chủ nghĩa. Trong tiểu thuyết hiện đại, giữa các xu hướng tìm lối khác nhau có khoảng cách rất lớn. Điều này làm cho việc xác định diện mạo tiểu thuyết hiện đại trở nên phức tạp. Tuy nhiên, nếu tạm bỏ qua những nét quá đặc biệt của từng xu hướng, có thể nói đến các đặc điểm lớn sau của tiểu thuyết hiện đại:

Trả lời:

  • Tiểu thuyết có khả năng thể hiện nội dung đa dạng, bao quát nhiều không gian và thời gian.
  • Tiểu thuyết phát triển theo nhiều hướng khác nhau tùy thuộc vào tiến bộ lịch sử, xã hội, văn hóa, thẩm mỹ.
  • Tiểu thuyết hiện đại có tư duy mới, mang tính hiện đại về đời sống.
  • Tiểu thuyết hiện đại có khoảng cách rất lớn giữa các xu hướng tìm lối khác nhau.

Trang 12 — Phong cách hiện thực

Câu hỏi:

Tuy nhiên, ta có thể tổng hợp kiến thức về Phong cách hiện thực:

Phong cách hiện thực: Phong cách hiện thực là phong cách nghệ thuật chú trọng thể hiện mối quan hệ giữa hoàn cảnh xã hội với sự hình thành tính cách con người, quan tâm miêu tả một cách chi tiết, "như thật" những hình ảnh phong phú, phức tạp của hiện thực cuộc sống, thường loại trừ sự "tô vẽ" hay lý tưởng hóa. Phong cách này có lịch sử phát triển lâu dài, tồn tại trong các sáng tác thuộc nhiều thể loại khác nhau của văn học, nghệ thuật như: thơ, truyện (bao gồm tiểu thuyết), kịch, tác phẩm tạo hình...

Trong văn học, phong cách hiện thực đạt đến đỉnh cao với những sáng tác thuộc trường phái hiện thực mà các đại diện tiêu biểu là S. Đích-ken (Ch. Dickens – Anh), H. đờ Ban-đắc (H. de Balzac – Pháp), L. Tôn-xtôi (L. Tolstoy – Nga), Ph. Đốt-xtôi-ép-xki (F. Dostoevsky – Nga), Lỗ Tấn (Trung Quốc),... Trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, phong cách hiện thực gắn với tên tuổi và sáng tác của các nhà văn như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao,... Phong cách hiện thực thường được đặt trong tương quan so sánh, đối lập với phong cách lãng mạn - một phong cách ưu tiên việc thể hiện cảm nhận chủ quan, đối khi lý tưởng hóa đối tượng được đề cập và coi trọng sự tưởng tượng, liên tưởng phóng túng.

Nói mỉa và nghịch ngữ:

Nói mỉa là biện pháp tu từ thể hiện thái độ mỉa mai hay sự đánh giá mang tính phủ định ngầm ẩn của người nói, người viết về sự vật, sự việc được đề cập.

Trong nói mỉa, người nói, người viết tạo ra sự mâu thuẫn cố ý giữa phần hiển ngôn và phần hàm ngôn của một lời nói hay của cả chuỗi phát ngôn. Phần hiển ngôn dường như thể hiện thái độ tán thành, khen ngợi hoặc trung lập, khách quan trước đối tượng được nói tới nhưng phần hàm ngôn lại cho biết một thái độ khác: phủ nhận (ở những mức độ khác nhau) hoặc dè bỉu. Nói mỉa chủ yếu được nhận ra nhờ hiệu quả châm biếm mà lời nói mang lại. Trong các yếu tố tạo nên nói mỉa có thể có nghịch ngữ.

Nghịch ngữ là biện pháp tu từ, nhờ đó, người nói, người viết dùng một cụm từ gây ấn tượng mạnh, làm nổi bật tính chất hai mặt của một tình thế, tâm trạng nào đó, hoặc làm phát lộ sự thật về đối tượng theo quan điểm của mình.

Nghĩa của nghịch ngữ đối lập với nghĩa của các cụm từ khác trong câu hoặc trong các câu khác gần kề, nhấn mạnh sự phát hiện mới hay cảm nhận, liên tưởng chủ quan của người nói, người viết về một đối tượng vốn có thể được nhìn nhận khác hẳn.

Nghịch ngữ thường xuất hiện trong nói mỉa. Ở những trường hợp đó, mỉa mai được nhìn nhận là mục đích của phát ngôn, còn nghịch ngữ được xem là phương tiện thực hiện mục đích này.