Trang 122 — không có tên bài/chương cụ thể
Câu 1. Văn học trung đại Việt Nam phát triển trong khuôn khổ xã hội phong kiến Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX, thường được phân thành bốn giai đoạn:
- Giai đoạn thứ nhất: từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XV.
- Giai đoạn thứ hai: từ đầu thế kỉ XVI đến hết thế kỉ XVII.
- Giai đoạn thứ ba: từ đầu thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX.
- Giai đoạn thứ tư: nửa cuối thế kỉ XIX.
Về nội dung, mười thế kỉ văn học trung đại Việt Nam phát triển và kết tinh với hai nguồn cảm hứng chủ đạo: cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân đạo. Tuỳ theo bối cảnh lịch sử - xã hội của thời đại, văn học hoặc thiên về cảm hứng yêu nước, khẳng định quyền độc lập, tự hào về truyền thống lịch sử, văn hoá của dân tộc (Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo,...) hoặc thiên về cảm hứng nhân đạo: yêu thương, bênh vực, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của con người (Chuyện người con gái Nam Xương, Truyền Kiều,...).
Về hình thức thể loại, ở bộ phận văn học chữ Hán, bên cạnh thơ trữ tình các thể loại tự sự (truyện, kí) đều được viết bằng văn xuôi (Thánh Tông đi thảo tương truyền của vua Lê Thánh Tông, Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái). Ở bộ phận văn học chữ Nôm, thơ trữ tình và các thể truyện đều được viết bằng văn biền ngẫu (bằng thơ lục bát như Truyện Kiều của Nguyễn Du, Truyện Lụa Van Tiên của Nguyễn Đình Chiểu; bằng thơ song thất lục bát như Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều hay bản dịch Chinh phụ ngâm được cho là của Phan Huy Ích; bằng thơ thất ngôn bát cú luật Đường như So kinh tân trang của Phạm Thái).
Trả lời: Các giai đoạn phát triển của văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX bao gồm:
- Giai đoạn từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XV.
- Giai đoạn từ đầu thế kỉ XVI đến hết thế kỉ XVII.
- Giai đoạn từ đầu thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX.
- Giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX.
Nội dung văn học trung đại kết tinh với hai nguồn cảm hứng chủ đạo:
- Cảm hứng yêu nước: "khẳng định quyền độc lập, tự hào về truyền thống lịch sử, văn hoá của dân tộc" (Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo,...).
- Cảm hứng nhân đạo: "yêu thương, bênh vực, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của con người" (Chuyện người con gái Nam Xương, Truyền Kiều,...).
Về hình thức thể loại:
- Bộ phận văn học chữ Hán: các thể loại tự sự (truyện, kí) thường viết bằng văn xuôi.
- Ví dụ: Thánh Tông đi thảo tương truyền của vua Lê Thánh Tông, Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái.
- Bộ phận văn học chữ Nôm:
- Thơ trữ tình và các thể truyện thường viết bằng văn biền ngẫu.
- Các thể thơ: lục bát (Truyện Kiều của Nguyễn Du, Truyện Lụa Van Tiên của Nguyễn Đình Chiểu), song thất lục bát (Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều), thất ngôn bát cú luật Đường (So kinh tân trang của Phạm Thái).
Câu 2. Văn học hiện đại Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến nay phát triển theo hai thời kì:
Thời kỉ thứ nhất: từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, thời kỉ này gồm hai giai đoạn: Văn học từ đầu thế kỉ XX đến năm 1930 và Văn học từ năm 1930 đến Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Thời kỉ thứ hai: từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay với hai giai đoạn chính: Văn học từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975 và Văn học từ năm 1975 đến nay.
Trả lời: Văn học hiện đại Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến nay được chia thành hai thời kì:
Thời kì thứ nhất (từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945), gồm hai giai đoạn:
- Văn học từ đầu thế kỉ XX đến năm 1930.
- Văn học từ năm 1930 đến Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Thời kì thứ hai (từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay), gồm hai giai đoạn:
- Văn học từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975.
- Văn học từ năm 1975 đến nay.
Câu 3. Thời kì thứ nhất: Nối tiếp văn học trung đại, văn học thời kỉ từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 có vai trò quan trọng trong công cuộc hiện đại hoá văn học dân tộc. Chữ Quốc ngữ hình thành và sau bước thử nghiệm với một số sáng tác văn học vào cuối thế kỉ XIX, đã chính thức được sử dụng rộng rãi trong văn học từ đầu thế kỉ XX. Trên cơ sở phát huy những truyền thống và bản sắc của văn học dân tộc, đồng thời tiếp thu ảnh hưởng của văn học phương Tây, nhất là văn học Pháp, văn học Việt Nam nhanh chóng hiện đại hoá trên nhiều phương diện.
Trả lời: Thời kì văn học từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 có vai trò quan trọng trong công cuộc hiện đại hoá văn học dân tộc.
Những đặc điểm chính:
- Chữ Quốc ngữ được sử dụng rộng rãi trong văn học từ đầu thế kỉ XX, sau bước thử nghiệm vào cuối thế kỉ XIX.
- Phát huy truyền thống và bản sắc của văn học dân tộc.
- Tiếp thu ảnh hưởng của văn học phương Tây, đặc biệt là văn học Pháp.
- Văn học Việt Nam nhanh chóng hiện đại hoá trên nhiều phương diện.
Trang 126 — Văn học Việt Nam
Câu hỏi:
Trả lời:
Trang này chỉ chứa phần nội dung lý thuyết về văn học Việt Nam, không có câu hỏi nào.
Trang 127 — Câu hỏi
Câu 1. Văn học dân gian Việt Nam gồm những thể loại chính nào? Nêu tên tác phẩm tiêu biểu cho mỗi thể loại đó.
Trả lời: Văn học dân gian Việt Nam gồm các thể loại chính như: truyện, thơ, ca dao, tục ngữ, hò, hát, ... Một số thể loại và tác phẩm tiêu biểu:
- Truyện cười: "Tắt máy, thằng Bờm bịt mắt bắt rùa"; "Sơn Tinh - Thủy Tinh"; "Tam đại con ngỗng"; ...
- Truyện truyền kỳ: "Truyền kỳ mạn lục" (Nguyễn Dữ)
- Ca dao: "Trầu cau"; "Đò lên Vỵt Lác"; ...
- Tục ngữ: "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây"; "Uống nước nhớ nguồn"; ...
Câu 2. Kẻ bảng sau vào vở và xếp các tác phẩm – tác giả nêu phía dưới vào ô phù hợp trong bảng:
| Giai đoạn | Từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XV | Từ đầu thế kỷ XVI đến hết thế kỷ XVII | Từ đầu thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX | Nửa cuối thế kỷ XIX |
|---|---|---|---|---|
| Tác phẩm – tác giả |
Các tác phẩm – tác giả: Truyện Kiều (Nguyễn Du), Nam quốc sơn hà (tương truyền của Lý Thường Kiệt), Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn), Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi), Thánh Tông đi thảo (tương truyền của Lê Thánh Tông), Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ), Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái), Văn tế nghĩa sĩ Cần Giộc (Nguyễn Đình Chiểu), Chính phụ ngâm (nguyên văn chữ Hán: Đặng Trần Côn; bản diễn Nôm song thất lục bát: Phan Huy Ích), Chí khí anh hùng (Nguyễn Công Trứ), Thu vình, Thu điếu, Thu ẩm (Nguyễn Khuyến), Thương vợ (Trần Tế Xương), Hương Sơn phong cảnh ca (Chu Mạnh Trinh).
Trả lời:
| Giai đoạn | Từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XV | Từ đầu thế kỷ XVI đến hết thế kỷ XVII | Từ đầu thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX | Nửa cuối thế kỷ XIX |
|---|---|---|---|---|
| Tác phẩm – tác giả | Nam quốc sơn hà (tương truyền của Lý Thường Kiệt), Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi) | Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ) | Truyện Kiều (Nguyễn Du) | Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn), Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái), Văn tế nghĩa sĩ Cần Giộc (Nguyễn Đình Chiểu), Chính phụ ngâm (Đặng Trần Côn - Phan Huy Ích), Chí khí anh hùng (Nguyễn Công Trứ), Thu vình, Thu điếu, Thu ẩm (Nguyễn Khuyến), Thương vợ (Trần Tế Xương), Hương Sơn phong cảnh ca (Chu Mạnh Trinh). |
| Thánh Tông đi thảo (tương truyền của Lê Thánh Tông) |
Trang 128 — Phần ôn tập và thực hành
Câu 3. Nêu một số điểm khác biệt đáng lưu ý giữa hai bộ phận văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm.
Trả lời: Văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm là hai bộ phận quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam, mỗi bộ phận có những đặc điểm và vai trò riêng. Dưới đây là một số điểm khác biệt đáng lưu ý:
- Chữ viết: Văn học chữ Hán sử dụng chữ Hán (chữ Trung Quốc) để viết, trong khi văn học chữ Nôm sử dụng chữ Nôm, một hệ thống chữ viết được tạo ra dựa trên chữ Hán.
- Nội dung: Văn học chữ Hán thường tập trung vào các chủ đề như chính trị, triết lý, tôn giáo, và văn hóa Trung Quốc, cũng như các vấn đề liên quan đến triều đình và quan lại. Văn học chữ Nôm, bên cạnh việc phản ánh văn hóa và đời sống dân tộc, cũng thể hiện tinh thần độc lập và khát vọng dân chủ.
- Đối tượng sáng tác: Văn học chữ Hán thường được sáng tác bởi các nhà nho, quan lại, và trí thức có học thức cao, trong khi văn học chữ Nôm cũng được sáng tác bởi các nhà thơ, nhà văn không phải xuất thân từ tầng lớp quý tộc.
Câu 4. Kế bảng sau vào vở và ghi tên ít nhất 5 tác phẩm (kèm tên tác giả) đã học thuộc văn học hiện đại Việt Nam vào ô phù hợp trong bảng (có thể chọn tác phẩm từ lớp 6 đến lớp 12):
| Thời kì | Tác phẩm truyện/ thơ/ kịch/ văn nghị luận |
|---|---|
| Từ đầu thế kỉ XX đến hết Cách mạng tháng Tám năm 1945 | |
| Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay |
Trả lời:
| Thời kì | Tác phẩm truyện/ thơ/ kịch/ văn nghị luận |
|---|---|
| Từ đầu thế kỉ XX đến hết Cách mạng tháng Tám năm 1945 |
|
| Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay |
|
Câu 5. Tìm hiểu về nội dung yêu nước và nội dung nhân đạo trong văn học hiện đại Việt Nam. Phân tích biểu hiện của nội dung yêu nước hoặc nhân đạo qua một/ một số tác phẩm đã học.
Trả lời:
Văn học hiện đại Việt Nam thể hiện sâu sắc nội dung yêu nước và nhân đạo.
- Nội dung yêu nước: Thể hiện qua các tác phẩm như Đất nước (Nguyễn Đình Thi), Sóng (Xuân Quỳnh), hay Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành). Các tác phẩm này thể hiện tình yêu nước sâu sắc, ý thức về độc lập, tự do, và trách nhiệm của công dân.
- Nội dung nhân đạo: Thể hiện qua các tác phẩm như Vợ nhặt (Kim Lân), Làng (Kim Lân), hay Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu). Các tác phẩm này đề cập đến số phận con người, tình yêu thương, và sự đồng cảm giữa con người với con người.
Ví dụ, trong tác phẩm Vợ nhặt, Kim Lân đã thể hiện nội dung nhân đạo qua việc khắc họa số phận bi thương của người nông dân trong nạn đói năm 1945, đồng thời bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ với họ.