Trang 24 —
Câu hỏi:
Trả lời: Trang này không có câu hỏi, chỉ có một đoạn văn bản trong một tác phẩm văn học.
Trang 23 — Bản mẫu góp ý
Câu hỏi:
- Câu 3. Cô em thân mến, hẳn có bảo tôi rằng thế là cái bánh xe vô lượng(4) nó đã quay rồi đấy. Đến nay, tất cả những ai ở Đông Dương có màu da trắng đều là những bác khai hoa(5), thì bây giờ đến lượt tất cả những ai có màu da vàng đều trở thành hoàng đế ở Pháp.
Trả lời: Câu 3 yêu cầu phân tích ý nghĩa của đoạn văn trong ngữ cảnh truyện.
Đoạn văn cho thấy sự châm biếm của tác giả về quan niệm phân biệt chủng tộc và đẳng cấp xã hội trong thời kỳ đó. Cụ thể:
Ý nghĩa biểu tượng của "cái bánh xe vô lượng": "Cái bánh xe vô lượng" là một hình ảnh ẩn dụ, có thể hiểu là một vòng quay luân hồi không có điểm kết thúc. Tác giả sử dụng nó để ám chỉ sự thay đổi không ngừng của số phận và địa vị xã hội giữa các tầng lớp, đặc biệt là giữa người da trắng (được coi là thượng đẳng) và người da vàng (bị coi là hạ đẳng).
Sự châm biếm về quan niệm "bác khai hoa" và "hoàng đế ở Pháp":
- "Bác khai hoa" là cách gọi mỉa mai dành cho những người Đông Dương da trắng, ngụ ý rằng họ chỉ cần "khai hoa" (một sự kiện đơn giản) đã được coi là có đặc quyền.
- Câu "thì bây giờ đến lượt tất cả những ai có màu da vàng đều trở thành hoàng đế ở Pháp" là một sự cường điệu và mỉa mai. Tác giả phản ánh sự bất công và phân biệt chủng tộc, khi người da vàng bị đối xử không công bằng và bị xem là mãi mãi thấp kém.
Tóm lại, đoạn văn thể hiện sự bất bình của tác giả trước sự phân biệt chủng tộc và châm biếm cách mà thực dân Pháp đối xử với người bản địa, đồng thời thể hiện một cách nhìn nhận sâu sắc về sự bất công trong xã hội thuộc địa.
Trang 26 — Vĩ Hành
Câu 1. Nêu nội dung cơ bản của mỗi phần trong văn bản.
Trả lời: Văn bản "Vĩ Hành" của Nguyễn Ánh Quế có thể được chia thành hai phần chính:
- Phần 1: Tác giả kể về những cảm nhận, suy nghĩ của nhân vật tôi khi chứng kiến cảnh một đôi trai gái người Pháp đi dạo trong công viên.
- "nè hà chút công sức nào để bảo vệ bợn tôi, và giả cớ được trông thấy các vị ân cần theo dõi tôi chẳng khác bà mẹ hiền rinh con thơ chập chững bước đi thử nhất, thì hằn cố phải phát ghẹn lên được về nỗi niềm âu yếm của các vị dõi với tôi. Có thể nói là các vị bám lấy để giày tôi, dính chật với tôi như hình với bóng."
- Phần 2: Tác giả bày tỏ niềm tự hào khi mỗi lần ra khỏi nhà, ông không sao che giấu nổi niềm tự hào được là một người An Nam và sự kiêu hãnh được có một vị hoàng đế.
Câu 2. Truyện viết về việc gì? Có những nhân vật nào xuất hiện trực tiếp và nhân vật nào được nói tới trong câu chuyện? Tình huống của truyện "Vĩ hành" độc đáo như thế nào?
Trả lời:
- Tóm tắt truyện: "Vĩ hành" là câu chuyện tác giả Nguyễn Ái Quốc (sau này là Hồ Chí Minh) thuật lại trải nghiệm cá nhân khi chứng kiến sự ngưỡng mộ của các công dân Pháp dành cho Tổng thống Mỹ khi đến thăm một địa điểm công cộng.
- Nhân vật trực tiếp: Nhân vật "tôi" (Nguyễn Ái Quấc) và các vị khách du lịch (người Pháp).
- Nhân vật được nói tới: Tổng thống Mỹ (được ngụ ý qua sự ngưỡng mộ của khách du lịch).
- Tình huống độc đáo: Tình huống truyện độc đáo ở chỗ nhân vật tôi đã "liêu trai" vào một tình huống giả định, trong đó ông cảm thấy xúc động khi thấy sự ngưỡng mộ của người Pháp dành cho một tổng thống (được ngầm hiểu là của Mỹ), từ đó ông liên hệ với tình cảm của người Việt dành cho vua của họ.
Câu 3. Phân tích hình ảnh của "đáng hoàng thương" trong mắt của đôi trai gái người Pháp.
Trả lời:
- Trong đoạn văn, hình ảnh của "đáng hoàng thương" trong mắt đôi trai gái người Pháp được khắc họa qua sự ngưỡng mộ thái quá và cả sự ghen tị của các vị khách du lịch.
- Họ theo dõi nhân vật tôi "chẳng khác bà mẹ hiền rinh con thơ chập chững bước đi thử nhất".
- Cách so sánh này làm nổi bật sự bảo vệ và quan tâm thái quá, gần như là sự chiếm hữu.
Câu 4. Nhận xét về nội dung, ý nghĩa của đoạn văn từ "Cái vui nhất là ngay đến Chính phủ" đến "sự kiêu hãnh được có một vị hoàng để".
Trả lời:
- Đoạn văn này thể hiện niềm tự hào của tác giả về dân tộc và đất nước Việt Nam.
- Tác giả cảm thấy tự hào khi ra khỏi nhà, ông không thể che giấu được niềm tự hào là người An Nam và có một vị hoàng đế.
- Đoạn văn này nhấn mạnh lòng yêu nước và niềm kiêu hãnh dân tộc sâu sắc của tác giả.
Câu 5. Phân tích sức mạnh đã kích của thiên truyện. Mẫu sắc chấm biểm, đánh giá chủ yếu được tạo nên bởi những yếu tố nào?
Trả lời:
- Sức mạnh đả kích của thiên truyện đến từ sự đối lập giữa thái độ của người Pháp với người Việt, và cách tác giả sử dụng giọng điệu mỉa mai, châm biếm.
- Mẫu sắc chấm biểm, đánh giá chủ yếu được tạo nên bởi:
- Giọng điệu mỉa mai: Tác giả dùng giọng điệu mỉa mai để chỉ ra sự thái quá trong cách đối xử của người Pháp với các nhân vật.
- Phản ánh thực tế xã hội: Tác giả phản ánh thực tế xã hội thuộc địa, nơi mà người bản địa bị coi là "khác lồi".
- So sánh liên tưởng: Tác giả liên tưởng đến tình cảm người Việt dành cho vua, làm nổi bật sự tương phản.
Câu 6. Theo em, việc tác giả chọn hình thức viết thư cho cô em họ có ý nghĩa gì đối với nghệ thuật trần thuật của truyện?
Trả lời:
- Việc tác giả chọn hình thức viết thư cho cô em họ giúp tác giả thể hiện suy nghĩ, cảm xúc một cách tự nhiên, gần gũi và thân mật.
- Hình thức này cũng giúp tác giả dễ dàng bày tỏ những cảm xúc, suy nghĩ cá nhân mà không cần phải nghiêm trang như các thể loại văn xuôi khác.
Câu 7. Nêu ý tưởng về minh họa cho một nội dung trong truyện "Vĩ hành".
Trả lời:
- Một ý tưởng minh họa có thể là vẽ một bức tranh thể hiện cảnh đôi trai gái người Pháp đi dạo trong công viên, với biểu cảm ngưỡng mộ và ghen tị trên khuôn mặt.
- Bức tranh này có thể kèm theo một số chi tiết như: nhân vật tôi đứng một bên, mỉm cưởi và tự hào, trong khi các vị khách du lịch đang theo dõi mình.
- Minh họa này sẽ giúp người đọc hình dung rõ hơn về tình huống truyện và cảm xúc của các nhân vật.
Trang 27 — BIỆN PHÁP TU TỪ NÓI MÌA
Câu 1. Gạch chân những từ ngữ thể hiện biện pháp tu từ nói mỉa trong các đoạn văn sau (trích từ truyện "Vĩ hành" - Nguyễn Ái Quốc):
a) Tôi nhớ chuyện vua Thuần, vì muốn dịch thân tai nghe mắt thấy dân có bằng lòng mình không, nên cái trang làm dân cấy cày ở đô la khắp xít. [...] Bên cạnh những bậc cái trang vì đại hày muốn đi sâu vào cuộc sống của nhân dân, ngày nay còn có những ông hoàng, ông chúa, để tiện việc riêng và vì những lí do không cao thượng bằng, cũng "vi hành".
Trả lời:
- Những từ ngữ thể hiện biện pháp tu từ nói mỉa:
- "cái trang làm dân cấy cày ở đô la khắp xít"
- "những ông hoàng, ông chúa".
b) Tôi không được rõ đồ của nhà "vĩ hành" của chúng ta ra sao. Phải chăng là ngài muốn biết dân Pháp, dưới quyền ngự trị của bạn ngài là A-lếch-xăng Đệ nhất, có được sung sướng, có được uống nhiều rượu và được hút nhiều thuốc phiện bằng dân Nam dưới quyền ngự trị của ngài, hay không?
Trả lời:
- Những từ ngữ thể hiện biện pháp tu từ nói mỉa:
- "A-lếch-xăng Đệ nhất".
c) Có không thể tưởng tượng được cảnh đằng này dành cho chúng tôi ở đây. Quản chúng tôi tự phát mà biều lộ nhiệt tình khi vừa thoáng thấy một đồng bảo ta. Những tiếng "Hát đấy!" hay "Xem hát kìa!" là những lời chào mừng kín đáo và kính trọng mà chúng tôi thường gặp dọc đường.
Trả lời:
- Những từ ngữ thể hiện biện pháp tu từ nói mỉa:
- "Hát đấy!"
- "Xem hát kìa!".
d) Ngày nay, cứ mỗi lần ra khỏi cửa, thà tôi không sao che giấu nổi niềm tự hào được là một người An Nam và sự kiêu hãnh được có một vị hoàng để.
Trả lời:
- Những từ ngữ thể hiện biện pháp tu từ nói mỉa:
- "một vị hoàng để".
Câu 2. Tìm và phân tích tác dụng của biện pháp nói mỉa trong những câu ca dao dưới đây:
a) Chống người vác giáo sẵn beo Chống em vác đùa sẵn mèo khắp mâm.
Trả lời:
- Biện pháp nói mỉa:
- "vác giáo sẵn beo"
- "vác đùa sẵn mèo khắp mâm".
- Tác dụng: Thể hiện sự chê bai, mỉa mai những người thích nói mà không có hành động thực tế.
b) Đồn rằng cha mẹ anh hiền Ăn cơm không vợ, cầm tiền vô tư.
Trả lời:
- Biện pháp nói mỉa:
- "Ăn cơm không vợ, cầm tiền vô tư".
- Tác dụng: Chỉ trích, mỉa mai những người đàn ông không biết chăm lo cho gia đình.
c) Vợ anh khéo liệu khéo lo, Bán một con bò, mua cái ểnh ương.
Trả lời:
- Biện pháp nói mỉa:
- "Bán một con bò, mua cái ểnh ương".
- Tác dụng: Mỉa mai, chê cười việc vợ không biết quản lý gia đình.
d) Đem về thả á gầm giường, Nó kêu ộp, lại thương con bò.
Trả lời:
- Biện pháp nói mỉa:
- "Đem về thả á gầm giường",
- "Nó kêu ộp, lại thương con bò".
- Tác dụng: Chê bai, mỉa mai cách hành xử không đúng mực.
Câu 3. Tìm trong truyện cười hoặc thơ châm biếm ba ví dụ về biện pháp tu từ nói mỉa.
Trả lời:
- Ví dụ 1:
- Trong truyện cười "Tấm Cám", có câu: "Bà lão đánh cá và con cá vàng" (tương tự trong văn học Việt Nam và thế giới).
- Ví dụ 2:
- Trong thơ châm biếm của Nguyễn Khuyến: "Làm quan được mấy lời khen, Lại ra làm lính lại điên một hồi."
- Ví dụ 3:
- "Lời nói không mất tiền mua, Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau".
Câu 4. Viết một đoạn văn (khoảng 10 - 15 dòng) trình bày suy nghĩ của em về tác dụng của biện pháp nói mỉa trong truyện "Vĩ hành" của Nguyễn Ái Quốc.
Trả lời: Biện pháp nói mỉa trong truyện "Vĩ hành" của Nguyễn Ái Quốc có tác dụng rất lớn trong việc bộc lộ thái độ châm chọc, mỉa mai đối với thói hư tật xấu của một số người. Qua đó, tác giả thể hiện sự phê phán kín đáo nhưng sâu sắc. Biện pháp này giúp người đọc nhận ra sự thật đằng sau những lời lẽ "tự cao tự đại" của nhân vật. Từ đó, tác dụng của biện pháp nói mỉa không chỉ dừng lại ở việc giải trí mà còn góp phần giáo dục, thức tỉnh nhận thức. Việc sử dụng biện pháp nói mỉa một cách khéo léo đã tạo nên một văn phong hóm hỉnh, gần gũi và dễ tiếp cận. Điều này giúp người đọc dễ dàng tiếp thu và suy ngẫm về bài học cuộc sống.