Trang 61 — Bài 8: Trăng xưa, Hạc cũ với xuân này... (TÁC GIẢ HỒ CHÍ MINH VÀ VĂN BẢN NGHỊ LUẬN)
Câu hỏi yêu cầu:
- Vận dụng được những hiểu biết về tác giả Hồ Chí Minh để đọc hiểu một số tác phẩm của Người.
- Nhận biết, phân tích được nội dung của luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu, độc đáo trong một văn bản nghị luận; chỉ ra mối liên hệ của chúng.
- Phân tích và đánh giá được cách tác giả sử dụng một số thao tác nghị luận trong văn bản để đạt được mục đích.
- Phân tích được các biện pháp tu từ, từ ngữ, câu khẳng định, phủ định trong văn bản nghị luận và đánh giá hiệu quả của việc sử dụng các hình thức này; nhận biết và phân tích được vai trò của cách lập luận và ngôn ngữ biểu cảm trong văn bản nghị luận.
- Viết được bài phát biểu trong lễ phát động một phong trào hoặc một hoạt động xã hội.
- Biết thuyết trình về một vấn đề liên quan đến cơ hội và thách thức đối với đất nước.
- Biết trân trọng lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc; phát huy trách nhiệm của công dân trẻ đối với cộng đồng.
Chân trời sáng tạo
NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH (1890 – 1969)
1. Vài nét về tiểu sử
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước, quê tại làng Sen (tức làng Kim Liên, hay thuộc xã Kim Liên), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Hồ Chí Minh là nhà yêu nước & cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam, đồng thời là nhà văn, nhà thơ kết tinh những phẩm chất nghệ sĩ và tâm hồn, cốt cách Việt Nam.
Suốt đời mình, Người đã hi sinh, phấn đấu cho độc lập của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.
Sau thời gian học tập ở Trường Quốc học Huế, năm 1910, thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy học ở Trường Dục Thanh – một trường học của tổ chức yêu nước.
Tác giả Hồ Chí Minh, thời thanh niên tên là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và một số tên, bút danh khác.
2. Quan điểm sáng tác văn học
Là người am hiểu quy luật và đặc trưng của hoạt động văn học, Hồ Chí Minh luôn coi trọng vai trò của văn chương đối với sự nghiệp cách mạng và đời sống con người. Người quan niệm văn học nghệ thuật là vũ khí đấu tranh cách mạng, văn chương nghệ thuật trong thời đại cách mạng cần đề cao tinh thần chiến đấu, chất "thép" và tinh thần "xung phong" trên tuyến đầu của "mặt trận" văn hoá nghệ thuật; làm thơ, viết văn cũng là hành động cách mạng.
Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong. (Hồ Chí Minh, Cảm tưởng đọc Thiên gia thi)
Với nhận thức và quan niệm như vậy, khi đặt bút viết, bao giờ Người cũng tự hỏi: “Viết cho ai?” (xác định đối tượng người đọc), “Viết để làm gì?” (xác định mục đích sáng tác); sau đó mới quyết định “Viết cái gì?” (lựa chọn nội dung) và “Viết
Trả lời:
Hồ Chí Minh có những quan điểm sáng tác văn học rõ ràng và sâu sắc, thể hiện qua các ý chính sau:
Vai trò của văn học: Người coi văn học là "vũ khí đấu tranh cách mạng", đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng và đời sống con người. Điều này thể hiện qua câu nói:
"Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong."Chất "thép" và tinh thần "xung phong": Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của văn chương nghệ thuật trong thời đại cách mạng, cần có "chất thép" (ý chí chiến đấu) và "tinh thần xung phong" (sự tiến công, mạnh mẽ). Điều này nhằm nâng cao tinh thần yêu nước và đấu tranh của dân tộc.
Mục tiêu và đối tượng sáng tác: Khi đặt bút viết, Người luôn tự hỏi:
- "Viết cho ai?" (xác định đối tượng người đọc)
- "Viết để làm gì?" (xác định mục đích sáng tác)
- "Viết cái gì?" (lựa chọn nội dung)
- "Viết như thế nào?" (phương pháp và phong cách viết).
Quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh vừa đảm bảo tính chiến đấu, vừa hướng tới giá trị nhân văn, thể hiện tư tưởng tiến bộ và yêu nước sâu sắc.
3. Di sản văn học
Bên cạnh sự nghiệp cách mạng vĩ đại, với tâm hồn nghệ sĩ mang cốt cách Việt Nam, Hồ Chí Minh còn để lại một di sản văn học có giá trị lớn lao về nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật. Sự nghiệp văn học của Người bao gồm nhiều thể loại, trong đó các thể loại chính gồm: văn chính luận, truyện và kí, thơ ca.
a. Văn chính luận
Tiêu biểu cho văn chính luận của Hồ Chí Minh là các tác phẩm được viết ở những chặng đường, những thời điểm quan trọng có tính lịch sử của cách mạng Việt Nam. Sau 16 năm bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, Người viết Đường Kách mệnh (1927). Cách mạng tháng Tám thành công, để khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người viết Tuyên ngôn Độc lập (1945). Nhằm tập hợp, kêu gọi và phát huy sức mạnh “toàn dân, toàn diện” trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Người viết Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946). Để cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân đấu tranh thống nhất nước nhà trong những năm đầu chống đế quốc Mĩ cứu nước, Người viết Không có gì quý hơn độc lập, tự do (1966). Chuẩn bị cho những ngày đi xa (1969), Người viết bản Di chúc và ước mong “để lại muôn vàn tình thân yêu” cho toàn thể đồng bào Việt Nam.
b. Truyện và kí
Đáng chú ý là những truyện ngắn viết bằng tiếng Pháp khi tác giả còn hoạt động ở Pháp như Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Vi hành, Những trò lố hay là Va-ren (Varenne) và Phan Bội Châu, Con người biết mùi hun khói,... và Bản án chế độ thực dân Pháp - một thiên phóng sự điều tra giàu tính chính luận. Về nội dung, đây là những tác phẩm tập trung phê phán bản chất tàn bạo, xảo trá của chế độ thực dân và phong kiến đối với nhân dân lao động ở các nước thuộc địa, đồng thời ngợi ca những tấm gương yêu nước và cách mạng. Về hình thức nghệ thuật, đây là các truyện, kí cho thấy một nghệ thuật tự sự linh hoạt, độc đáo, một ngòi bút châm biếm vừa sâu sắc, đầy tính chiến đấu, vừa tươi tắn, hóm hình. Tính tư liệu phong phú và đầy sức thuyết phục cũng là một nét đặc sắc của những tác phẩm này, đặc biệt là thể phóng sự.
4. Phong cách nghệ thuật
Nét nổi bật trong phong cách nghệ thuật của tác giả Hồ Chí Minh là sự phong phú, đa dạng mà thống nhất.
a. Tính phong phú, đa dạng
Đặt các bộ phận, thể loại trong sáng tác của Hồ Chí Minh cạnh nhau, ta có thể dễ dàng nhận thấy tính phong phú, đa dạng trong phong cách nghệ thuật của Người. Chẳng hạn, Truyện và kỉ của Nguyễn Ái Quốc viết trong thời gian Người hoạt động cách mạng ở Pháp là những áng văn xuôi viết bằng tiếng Pháp mang phong cách hiện đại của phương Tây; trong khi đó, Nhật kí trong tù và thơ trữ tình sáng tác trong kháng chiến chống Pháp của Hồ Chí Minh lại mang đậm phong vị cổ điển của thơ Đường, thơ Tống. Nếu văn xuôi tự sự của Người thể hiện trí tưởng tượng bay bổng, khả năng hư cấu sáng tạo độc đáo của nhà nghệ sĩ tài ba thì văn chính luận, thơ ca tuyên truyền của Người lại thể hiện một tư duy sắc bén, chú trọng hiệu quả thực tiễn của một nhà hoạt động cách mạng dạn dày.
a. Tính phong phú, đa dạng
Tính phong phú, đa dạng trong phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh thể hiện ở sự kết hợp giữa các thể loại văn học và phong cách ngôn ngữ khác nhau.
Văn xuôi tự sự (Truyện, Kỉ):
- Viết bằng tiếng Pháp, mang phong cách hiện đại của phương Tây.
- Thể hiện trí tưởng tượng bay bổng, khả năng hư cấu sáng tạo độc đáo của một nhà nghệ sĩ.
Thơ trữ tình (Nhật kí trong tù, thơ sáng tác trong kháng chiến chống Pháp):
- Mang đậm phong vị cổ điển của thơ Đường, thơ Tống.
- Thể hiện tâm trạng, tình cảm với ngôn ngữ giản dị, sâu sắc.
Văn chính luận và thơ ca tuyên truyền:
- Thể hiện tư duy sắc bén, chú trọng hiệu quả thực tiễn.
- Nhằm mục tiêu chính trị rõ ràng, góp phần thúc đẩy các phong trào cách mạng.
Sự đa dạng này cho thấy sự tài năng và linh hoạt của Hồ Chí Minh trong việc sử dụng ngôn ngữ và thể loại để đạt được mục tiêu nghệ thuật và chính trị.