Trang 65 — Gánh gánh... gồng gồng...

Câu hỏi:

  • Xe Jeep của I-ven và các thành viên đoàn làm phim đã gặp phải những khó khăn, nguy hiểm nào trên đường từ Hà Nội vào Vĩnh Linh?

Trả lời: Xe Jeep của I-ven và các thành viên đoàn làm phim đã gặp phải những khó khăn, nguy hiểm trên đường từ Hà Nội vào Vĩnh Linh như sau:

  • Khó khăn trên đường:

    • Phải vượt qua đèo Đá Đèo, cầu phao ở khu vực sông Nhật Lệ.
    • Xe Jeep suýt rơi xuống sông khi cầu phao bị nghiêng ngả.
    • Phải dừng lại nhiều lần để tránh bom.
  • Mô tả chi tiết:
    "Xe ạch vượt đèo Đá Đèo. Lại tiếng bom nổ, lại những ánh chớp xanh khét lẹt của pháo sáng, lại những lúc xe đang vượt cầu phao, bồng máy bay ào đến, cầu phao nghiêng ngả, ba chiếc xe mấy lần suýt rơi xuống sông,.... Hết bom, lại mò mẫm trong đêm hướng về Vĩnh Linh."

  • Tình trạng xe:

    • Ba xe Jeep bị phá nát và được thay thế bằng ba xe Jeep khác.
    • Trong hành trình, có những lúc phải nhảy ra xe và nhảy vào xe liên tục để tránh bom.
  • Đánh giá chung:
    Hành trình từ Hà Nội vào Vĩnh Linh gặp nhiều nguy hiểm, thử thách, thể hiện qua sự khó khăn trong từng chặng đường và những tai nạn suýt xảy ra.

Câu hỏi:

  • Phân tích ý nghĩa của đoạn trích trên và rút ra những cảm nhận về hành trình của đoàn làm phim.

Trả lời: Đoạn trích trên là một phần trong tác phẩm Gánh gánh... gồng gồng..., kể về hành trình gian nan và nguy hiểm của đoàn làm phim khi di chuyển từ Hà Nội vào Vĩnh Linh. Ý nghĩa của đoạn trích:

  1. Phản ánh thực tế thời chiến tranh:

    • Hành trình đoàn làm phim cho thấy sự khó khăn và nguy hiểm của việc di chuyển trong thời chiến tranh.
    • Những nguy hiểm như bom nổ, cầu phao bị nghiêng ngả, xe bị phá nát,... thể hiện sự khắc nghiệt của hoàn cảnh.
  2. Tấm lòng và ý chí kiên cường:

    • Dù gặp nhiều khó khăn, đoàn làm phim vẫn quyết tâm lên đường để hoàn thành nhiệm vụ.
    • Câu nói của Phi Hùng:

      "Sợ thì có sợ, biết chậy tránh bom như chớp, biết bảo vệ ông I-ven an toàn, và bản thân mỗi người bình yên vượt qua cái chết. Rất đáng khen."
      cho thấy sự dũng cảm và ý thức trách nhiệm cao.

  3. Ý nghĩa nhân văn:

    • Đoạn trích nhấn mạnh sự hy sinh thầm lặng và tinh thần đoàn kết trong hoàn cảnh chiến tranh.

Cảm nhận:
Hành trình của đoàn làm phim không chỉ là một chuyến đi, mà còn là biểu tượng của sự kiên cường, tình đồng đội và trách nhiệm đối với nhiệm vụ. Những khó khăn không thể ngăn cản ý chí tiến về phía trước.

Câu hỏi:

  • Nêu một số chi tiết cho thấy sự khó khăn, nguy hiểm của hành trình.

Trả lời: Những chi tiết cho thấy sự khó khăn, nguy hiểm của hành trình:

  1. Môi trường nguy hiểm:

    • "Lại tiếng bom nổ, lại những ánh chớp xanh khét lẹt của pháo sáng"
    • "Ba chiếc xe mấy lần suýt rơi xuống sông"
  2. Xe bị hư hỏng:

    • "Ba xe Jeep bị phá nát, được cấp ba xe Jeep khác"
  3. Áp lực thời gian và địa hình:

    • "Xe ạch vượt đèo Đá Đèo"
    • "Hành trình mất hai mươi tám ngày"
  4. Sự bất ổn thường xuyên:

    • "Còn nhảy ra xe, nhảy vào xe rồi lại nhảy ra xe, rồi lại nhảy vào xe,... thì có đến hàng chục lần đếm không hết."

Những chi tiết này cho thấy hành trình của đoàn làm phim gặp nhiều thử thách, cả về địa hình lẫn sự đe dọa từ chiến tranh.


Trang 63 — Dữ liệu trong văn bản thông tin

Câu hỏi:

  • Yêu cầu cần đạt
  • Vai trò của dữ liệu trong văn bản thông tin

Phần yêu cầu cần đạt có các câu:

1. Phân tích và đánh giá được đề tài, thông tin cơ bản của văn bản; đánh giá được thái độ, quan điểm của người viết và nội dung của văn bản dựa trên trải nghiệm, quan điểm của người đọc.

Trả lời: Để phân tích và đánh giá một văn bản thông tin, cần thực hiện các bước sau:

  • Xác định đề tài và thông tin cơ bản của văn bản.
  • Đánh giá thái độ và quan điểm của người viết dựa trên nội dung văn bản.
  • Liên hệ với trải nghiệm và quan điểm cá nhân để đưa ra đánh giá về văn bản.

2. Nhận biết được bố cục, mạch lạc của văn bản; đánh giá được sự phù hợp giữa nội dung và nhan đề; đề xuất được các nhan đề khác.

Trả lời:

  • Bố cục của văn bản thông tin thường bao gồm: mở đầu, thân bài (trình bày thông tin), kết luận.
  • Mạch lạc của văn bản thể hiện qua cách sắp xếp các phần và mối liên kết giữa chúng.
  • Đánh giá sự phù hợp giữa nội dung và nhan đề bằng cách kiểm tra xem nhan đề có phản ánh chính xác nội dung chính của văn bản hay không.
  • Đề xuất nhan đề khác dựa trên việc hiểu nội dung văn bản và xác định từ khóa quan trọng.

3. Biết suy luận và phân tích mối liên hệ giữa các chi tiết, dữ liệu và vai trò của chúng trong việc thể hiện thông tin; đánh giá được cách chọn lọc, sắp xếp thông tin; phân biệt được dữ liệu sơ cấp và thứ cấp; nhận biết và đánh giá được tính mới mẻ, độ tin cậy của dữ liệu trong văn bản.

Trả lời:

  • Suy luận và phân tích mối liên hệ giữa các chi tiết và dữ liệu:
    • Xác định vai trò của từng chi tiết và dữ liệu trong việc hỗ trợ thông tin chính.
    • Đánh giá cách tác giả sử dụng dữ liệu để làm rõ thông tin.
  • Đánh giá cách chọn lọc và sắp xếp thông tin:
    • Xem xét liệu các thông tin được chọn lọc có phù hợp với mục đích của văn bản hay không.
    • Phân tích cách sắp xếp thông tin có logic và dễ hiểu hay không.
  • Phân biệt dữ liệu sơ cấp và thứ cấp:
    • Dữ liệu sơ cấp: là dữ liệu thu thập trực tiếp từ nguồn gốc, ví dụ: khảo sát trực tiếp.
    • Dữ liệu thứ cấp: là dữ liệu đã được xử lý hoặc tổng hợp từ các nguồn khác.
  • Đánh giá tính mới mẻ và độ tin cậy của dữ liệu:
    • Tính mới mẻ: xem liệu dữ liệu có cập nhật và mang tính thời sự hay không.
    • Độ tin cậy: kiểm tra nguồn gốc và độ chính xác của dữ liệu.

4. So sánh được hiệu quả biểu đạt của văn bản thông tin chỉ dùng ngôn ngữ và văn bản thông tin có kết hợp với các yếu tố phi ngôn ngữ.

Trả lời:

  • Văn bản thông tin chỉ dùng ngôn ngữ:
    • Dễ truyền tải thông tin một cách trực tiếp và rõ ràng.
    • Phù hợp với các nội dung đơn giản, cần độ chính xác cao.
  • Văn bản thông tin kết hợp các yếu tố phi ngôn ngữ (hình ảnh, biểu đồ):
    • Tăng tính trực quan và hấp dẫn người đọc.
    • Giúp người đọc dễ dàng nắm bắt thông tin phức tạp.

5. Hiểu được các quy định liên quan đến việc sử dụng ý tưởng, thông tin hay câu chữ của người khác trong bài viết của mình để tránh vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Trả lời:

  • Cần trích dẫn nguồn gốc ý tưởng, thông tin hoặc câu chữ của người khác.
  • Không sao chép trực tiếp mà không có sự trích dẫn.
  • Tôn trọng bản quyền và sử dụng thông tin một cách có đạo đức.

6. Viết được thư trao đổi về công việc hoặc một vấn đề đáng quan tâm.

Trả lời:

  • Khi viết thư trao đổi, cần xác định rõ mục đích và nội dung cần trao đổi.
  • Thư cần có các phần: mở đầu (lời chào), nội dung chính, kết thúc (lời cảm ơn hoặc chào kết thúc).

7. Biết tranh biện về một vấn đề đời sống (có những ý kiến trái ngược nhau); thể hiện được thái độ cầu thị khi tranh biện.

Trả lời:

  • Tranh biện cần dựa trên các ý kiến trái ngược nhau về vấn đề.
  • Thể hiện thái độ cầu thị:
    • Lắng nghe ý kiến đối phương.
    • Thảo luận một cách tôn trọng.

8. Có cái nhìn cởi mở, thái độ tôn trọng đối với những gì khác biệt.

Trả lời:

  • Tôn trọng sự khác biệt trong quan điểm và ý kiến.
  • Có thái độ cởi mở: sẵn sàng tiếp nhận và xem xét các quan điểm khác.

Phần tri thức ngữ văn:

Vai trò của dữ liệu trong văn bản thông tin

Dữ liệu là các thông tin dưới dạng chữ viết, kí hiệu, số liệu, hình ảnh, âm thanh,... nhằm mô tả hoặc đo lường sự vật.

Có thể nói, dữ liệu là yếu tố quan trọng bậc nhất trong văn bản thông tin. Văn bản thông tin chỉ thực sự có giá trị khi cung cấp được cho người đọc những thông tin mới, đáng tin cậy, dựa trên những dữ liệu phong phú, chính xác, khách quan. Lập trường, thái độ, quan điểm của tác giả cũng được bộc lộ một cách gián tiếp qua cách chọn lọc, sắp xếp, trình bày, phân tích, đánh giá dữ liệu.


Trang 67 — Dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp

Câu hỏi:

Trả lời:

  • Trang này cung cấp thông tin về lý thuyết liên quan đến dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp, cách đánh giá tính cập nhật và độ tin cậy của dữ liệu, khái niệm về thư từ, và tầm quan trọng của việc tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ.

Do đó, không có câu hỏi để trả lời.

Vậy trả lời là:


Trang 68 — Pa-ra-na (Parana)

Câu hỏi:

  • Bạn biết gì về lịch sử, văn hoá của các dân tộc bản địa ở Nam Mỹ? Chia sẻ với các bạn trong lớp những hiểu biết của bạn.

Trả lời: Sinh thời, tôi đã có cơ hội được tiếp xúc và tìm hiểu về nhiều nền văn hoá trên trái đất. Trong đó, các dân tộc bản địa ở Nam Mỹ có một nền văn hoá vô cùng đa dạng và phong phú.

Tại khu vực này, có rất nhiều dân tộc bản địa với những đặc trưng văn hoá riêng biệt, từ ngôn ngữ, tôn giáo đến phong tục tập quán. Ví dụ, người Inca ở Peru có một đế chế rộng lớn và nổi tiếng với thành phố Machu Picchu. Người Maya ở Mexico và Trung Mỹ có một nền văn minh với những thành tựu về toán học, thiên văn học và kiến trúc.

Tuy nhiên, nhiều dân tộc bản địa ở Nam Mỹ đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi quá trình thuộc địa hoá của các nước châu Âu. Nhiều nền văn hoá bản địa đã bị mai một hoặc biến dạng.

Hy vọng qua những hiểu biết của mình, các bạn có thể có thêm thông tin về các dân tộc bản địa ở Nam Mỹ.

Tóm tắt ý chính của đoạn văn.

Trả lời:

Trên những dải đất nhìn xuống hai bờ sông Ri-ô Ti-ba-gi (Rio Tibagy) ấy, ở độ cao 1 000 mét so với mặt biển, lần đầu tiên tôi đã tiếp xúc với những người hoang dã, trong khi đi theo một trưởng chi nhánh của cơ quan bảo vệ người Anh điên trong chuyến đi kiểm tra của ông ta.

Vào thời kì phát hiện ra xứ sở này, toàn bộ khu vực nam Bra-xin (Brasil) là nơi trú ngụ của những nhóm người có mối quan hệ gần gũi về ngôn ngữ và văn hoá và người ta xếp chung dưới tên gọi là Giê (Ge) (1). Có thể họ đã bị những kẻ xâm lược mới đây là người Tu-pi (Tupi) (2) đã chiếm giữ toàn bộ dài bờ biển và họ đang chiến đấu chống lại những người này. Được bảo vệ do đã lùi vào những vùng khó thâm nhập, người Giê ở nam Bra-xin đã tồn tại trong vài thế kỉ thoát khỏi người Tu-pi, còn người Tu-pi thì nhanh chóng bị đám thực dân xoá sổ. Trong những khu rừng của các bang phía nam: Pa-ra-na và Xan-ta Ca-ta-ri-na (Santa Catarina), những nhóm nhỏ người hoang đã tồn tại cho tới thế kỉ XX; có thể còn tồn tại vài nhóm cho tới năm 1935, bị truy đuổi tàn bạo đến mức trong khoảng một trăm năm gần đây nhất họ phải trốn biệt; nhưng phần lớn họ đã bị hao mòn và được chính phủ Bra-xin cho định cư ở nhiều trung tâm vào khoảng năm 1914. Lúc đầu, người ta cố gắng đưa họ vào đời sống hiện đại. Làng Xao Phe-rô-ni-mô (Sao Feronymo) là nơi đặt cơ sở của tôi, có một xưởng làm khóa, một xưởng cưa,