Trang 100 — [Nội dung trang]
Câu 1. Văn bản bàn luận về vấn đề gì? Theo em, phạm vi của vấn đề bàn luận trong văn bản này có gì khác với văn bản "Người con gái Nam Xương" - một bi kịch của con người?
Trả lời: Văn bản bàn luận về vấn đề viết cho thiếu nhi từ cái nhìn của người lớn, cụ thể là cách nhìn nhận và viết về tuổi thơ. Phạm vi của vấn đề bàn luận trong văn bản này tập trung vào việc phản ánh tuổi thơ qua lăng kính của người lớn, nhấn mạnh sự cần thiết của việc nhìn nhận lại tuổi thơ từ góc độ của người đã trưởng thành.
Khác với văn bản "Người con gái Nam Xương", một bi kịch của con người, ở chỗ văn bản này không chỉ tập trung vào một bi kịch cá nhân mà mở rộng ra vấn đề chung về cách tiếp cận và thấu hiểu tuổi thơ.
Câu 2. Xác định các luận điểm chính trong văn bản. Các luận điểm ấy có quan hệ với nhau như thế nào?
Trả lời: Các luận điểm chính trong văn bản bao gồm:
- Cách nhìn nhận của người lớn về tuổi thơ và việc viết cho thiếu nhi.
- Sự cần thiết của việc nhìn nhận lại tuổi thơ từ góc độ của người lớn để thấu hiểu và giáo dục trẻ em tốt hơn.
Các luận điểm này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Luận điểm đầu tiên đặt vấn đề về cách tiếp cận của người lớn khi viết cho thiếu nhi, từ đó dẫn đến luận điểm thứ hai về tầm quan trọng của việc nhìn nhận lại tuổi thơ.
Câu 3. Đọc phần (1) và cho biết tác giả bài nghị luận đã dùng những lí lẽ, bằng chứng nào để phân tích nhân dạng của Quỳnh và thái độ của các nhân vật khác đối với nhân dạng ấy. Em có nhận xét gì về các lí lẽ và bằng chứng được tác giả sử dụng?
Trả lời: Trong phần (1), tác giả đã dùng lí lẽ và bằng chứng để phân tích nhân dạng của Quỳnh và thái độ của các nhân vật khác đối với nhân dạng ấy. Tác giả nhận xét: "...miêu tả cảm giác sợ hãi của Nga trước những nét dị thường trong chân dung của Quỳnh, cái cách Nga chạy trốn khỏi tình cảm của Quỳnh...".
Các lí lẽ và bằng chứng này giúp làm sáng tỏ thái độ của các nhân vật và tạo cơ sở cho việc đánh giá nhân vật Quỳnh. Nhận xét về các lí lẽ và bằng chứng: chúng có tính thuyết phục và giúp người đọc hình dung rõ hơn về nhân vật.
Câu 4. Đọc phần (2) và cho biết tác giả có quan điểm như thế nào về nhân dạng của con người. Em hãy dẫn ra một vài lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu trong văn bản giúp làm sáng tỏ quan điểm của tác giả.
Trả lời: Tác giả có quan điểm rằng: "...một người lớn sau sắc và từng trải. Qua lăng kính của một người lớn đã đi qua bao bề bể đau của cuộc đời, của tình người, tuổi thơ được phát hiện lại, được trực vớt từ trong những hoài niệm, được chiếu sáng từ những thao thức về giá trị."
Một vài lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu:
- Tác giả nhấn mạnh vai trò của kinh nghiệm và sự trải nghiệm của người lớn trong việc nhìn nhận lại tuổi thơ.
- Dẫn chứng về việc tái hiện tuổi thơ qua lăng kính của người lớn giúp làm sáng tỏ quan điểm này.
Trang 103 — Thực hành tiếng Việt
Câu 5. Trong phần (2), tác giả đã lí giải như thế nào về cách ứng xử của chúng ta trước một nhân dạng đặc biệt? Việc liên tưởng đến truyện cổ tích trong đoạn cuối của phần này có tác dụng gì?
Trả lời: Trong phần (2), tác giả lí giải về cách ứng xử của chúng ta trước một nhân dạng đặc biệt bằng cách nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu và đồng cảm. Việc liên tưởng đến truyện cổ tích trong đoạn cuối của phần này giúp người đọc hình dung rõ hơn về những đặc điểm của nhân vật trong truyện cổ tích và thấy được sự tương đồng với cách ứng xử trong cuộc sống hàng ngày.
Câu 6. Trong phần (3), theo tác giả, một tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi cần có những phẩm chất gì? Những câu văn nào giúp em nhận ra điều đó?
Trả lời: Theo tác giả, một tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi cần có những phẩm chất:
- Phải viết cho trẻ em từ cái nhìn của một người lớn sâu sắc và từng trải.
Những câu văn giúp em nhận ra điều đó:
- “phải viết cho trẻ em từ cái nhìn của một người lớn sâu sắc và từng trải”.
Câu 7. Trong đoạn cuối của bài nghị luận, tác giả cho rằng: "phải viết cho trẻ em từ cái nhìn của một người lớn sâu sắc và từng trải". Em có suy nghĩ gì về quan điểm này?
Trả lời: Quan điểm của tác giả về việc viết cho trẻ em từ cái nhìn của một người lớn sâu sắc và từng trải là rất quan trọng. Điều này giúp các tác phẩm văn học thiếu nhi không chỉ đơn thuần là những câu chuyện giải trí mà còn mang lại những bài học ý nghĩa và kinh nghiệm sống cho trẻ em.
Câu 8. Nhận xét về nghệ thuật viết văn nghị luận của tác giả thể hiện ở văn bản (cách đặt vấn đề, tổ chức luận điểm, cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng, ngôn ngữ,...).
Trả lời: Tác giả đã thể hiện kỹ năng viết văn nghị luận xuất sắc với cách đặt vấn đề rõ ràng, tổ chức luận điểm logic, sử dụng lí lẽ và bằng chứng hợp lý, cùng với ngôn ngữ dễ hiểu và giàu hình ảnh.
Viết kết nối với đọc
"Không nên biến những nhân vật trong các tác phẩm văn học thiếu nhi trở thành những nhân vật hoàn hảo".
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 7 – 9 câu) chia sẻ suy nghĩ của em về ý kiến trên.
Trả lời: Ý kiến cho rằng không nên biến những nhân vật trong các tác phẩm văn học thiếu nhi trở thành những nhân vật hoàn hảo là một quan điểm đúng đắn. Nếu nhân vật trong các tác phẩm văn học thiếu nhi quá hoàn hảo, trẻ em sẽ khó liên tưởng và học tập từ những khuyết điểm và sai lầm mà nhân vật có thể gặp phải. Những nhân vật có khuyết điểm sẽ giúp trẻ em hiểu rằng ai cũng có thể mắc lỗi và quan trọng là cách chúng ta vượt qua và trưởng thành. Từ đó, trẻ em sẽ hình thành được những giá trị sống thực tế và phù hợp với cuộc sống. Việc tạo ra những nhân vật đa chiều sẽ giúp trẻ em phát triển khả năng tư duy và đánh giá về cuộc sống một cách toàn diện hơn.
Thực hành tiếng Việt
Một số lưu ý về cách tham khảo, trích dẫn tài liệu
Câu 1. So sánh hai cách trích dẫn tài liệu trong từng trường hợp dưới đây và cho biết cách nào đúng quy định. Dựa vào đâu em khẳng định như vậy?
a. Cách 1: Một nền giáo dục phiến diện, có thể sản sinh ra những người nông cạn về tinh thần, những con người một chiều kích.
Cách 2: Một nền giáo dục phiến diện, có thể sản sinh ra những người nông cạn về tinh thần, "những con người một chiều kích" như Héc-bớt Mác-cư-dô (Herbert Marcuse) đã nói.
Trả lời: Cách 2 đúng quy định vì nó trích dẫn nguồn gốc của câu nói một cách rõ ràng và chính xác.
b. Cách 1: Nhưng có một điều chắc chắn, để đi đến đích, em sẽ phải trải qua không ít thử thách, gian nan. Những lúc như vậy, hãy luôn nhớ rằng, “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông.” (Theo Đoàn Công Lê Huy, Câu chuyện về con đường)
Trả lời: Cách 1 đúng quy định vì nó đã trích dẫn nguồn gốc của câu nói một cách rõ ràng.
Khi viết, ta thường tham khảo tài liệu từ các nguồn khác nhau để có thể tiếp cận vấn đề một cách toàn diện, sâu sắc hơn.
Tài liệu tham khảo có thể được trích dẫn theo nhiều cách. Có thể chọn cách dẫn trực tiếp hoặc cách dẫn gián tiếp tùy vào mục đích của người viết. Tuy nhiên, dù chọn cách dẫn nào thì người viết cũng cần nêu rõ tác giả được trích dẫn và xuất xứ của tài liệu, đồng thời truyền tải nội dung ý tưởng, thông tin được trích dẫn để thể hiện sự tôn trọng đối với công sức lao động của người khác và tránh đạo văn. Ví dụ:
Trang 102 —
Câu 2. Dấu hiệu nào trong các đoạn trích sau cho thấy người viết tuân thủ quy định khi tham khảo tài liệu và trích dẫn? Từ đó, em rút ra bài học gì trong việc tham khảo và trích dẫn tài liệu?
Trả lời:
Các đoạn trích trong trang:
Đoạn a:
“Ở giữa dòng mà nói vọng vào: […] thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa”. Áo ảnh chập chờn và mau chóng tan biến. Chia ly là vĩnh viễn.
Người chết chẳng thể nào sống lại: “trong chốc lát, bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất”.
(Nguyễn Đăng Na, “Người con gái Nam Xương” – một bi kịch của con người)Đoạn b:
Sau này, tâm hồn thi sĩ, ngồi bút tài hoa của Hoàng Cầm cũng khiến ta chẳng thể nào quên nụ cười của những cô gái miền quê Kinh Bắc:
Những cố hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng.
(Lê Quang Hưng, “Nắng mới” – sự thành thực của một tâm hồn giàu mơ mộng)Đoạn c:
Từ hơn nửa thế kỷ trước đây, Nguyễn Tuân đã sớm cảm thấy cái sức truyền cảm tuy kín đáo nhưng khó cưỡng lại ấy trong văn chương của Thạch Lam khi viết một câu văn dung và đẹp lạ lùng: “Đọc ‘Hai đứa trẻ’, thấy bạn bị bủn rủ về một tâm hồn quê hương ảm mắt và sâu kín.”
(Đỗ Kim Hồi, Thạch Lam – Đôi điều cảm nhận)
Dấu hiệu cho thấy người viết tuân thủ quy định khi tham khảo tài liệu và trích dẫn:
Sử dụng dấu ngoặc kép (“”) để trích dẫn nguyên văn:
- Ví dụ:
- “Ở giữa dòng mà nói vọng vào: […] thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa”.
- “Người con gái Nam Xương” – một bi kịch của con người (Nguyễn Đăng Na)
- “Nắng mới” – sự thành thực của một tâm hồn giàu mơ mộng (Lê Quang Hưng)
- “Đọc ‘Hai đứa trẻ’, thấy bạn bị bủn rủ về một tâm hồn quê hương ảm mắt và sâu kín.” (Nguyễn Tuân)
- Ví dụ:
Ghi rõ nguồn gốc tài liệu (tên tác giả, tên tác phẩm):
- Ví dụ:
- (Nguyễn Đăng Na, “Người con gái Nam Xương” – một bi kịch của con người)
- (Lê Quang Hưng, “Nắng mới” – sự thành thực của một tâm hồn giàu mơ mộng)
- (Đỗ Kim Hồi, Thạch Lam – Đôi điều cảm nhận)
- Ví dụ:
Trích dẫn gián tiếp và trực tiếp hợp lý:
- Trích dẫn trực tiếp:
- Các đoạn văn ngắn, lời nói trực tiếp được trích dẫn nguyên văn.
- Trích dẫn gián tiếp:
- Nội dung được diễn đạt lại theo cách riêng.
- Trích dẫn trực tiếp:
Bài học rút ra:
- Khi tham khảo tài liệu và trích dẫn, cần:
- Trích dẫn chính xác nội dung, đặt trong dấu ngoặc kép.
- Ghi rõ nguồn gốc của tài liệu để đảm bảo tính trung thực và tôn trọng tác giả.
- Phân biệt trích dẫn trực tiếp và gián tiếp, sử dụng phù hợp với ngữ cảnh.
Câu 3. Trong tạo lập văn bản, việc không dẫn nguồn tài liệu khi dùng lời hoặc ý của người khác và việc trích dẫn theo cách gián tiếp khác nhau như thế nào?
Trả lời:
Không dẫn nguồn tài liệu khi dùng lời hoặc ý của người khác:
- Là hành vi sai, không tuân thủ quy định về tham khảo và trích dẫn.
- Dẫn đến thiếu trung thực, không tôn trọng tác giả và có thể vi phạm bản quyền.
Trích dẫn theo cách gián tiếp:
Là cách dẫn lại ý kiến của người khác nhưng không trích dẫn nguyên văn, mà diễn đạt lại theo cách riêng của mình.
Ví dụ:
Ý kiến của Trần Đình Sử:
“Văn chương là hành trình người đọc khám phá ý nghĩa thú vị bên trong tác phẩm văn chương, bồi dưỡng cho độc giả (“Đọc văn – cuộc chơi tâm ý nghĩa”)”.Cách này cần ghi rõ nguồn gốc để tránh đạo văn.
Kết luận:
Việc trích dẫn đúng cách giúp văn bản có tính chính xác, trung thực, và tôn trọng tác giả.
Trang 103 — Ngày xưa
Câu 1. Bà ru cháu bằng những câu Kiều, mặc dù cháu còn rất nhỏ, chưa thể hiểu được, điều đó gợi cho em suy nghĩ gì?
Trả lời: Bà ru cháu bằng những câu Kiều, mặc dù cháu còn rất nhỏ, chưa thể hiểu được, điều đó gợi cho em suy nghĩ về tình yêu thương và sự kỳ vọng của người mẹ dành cho con. Mẹ không chỉ ru cháu bằng những câu thơ mà còn gửi gắm vào đó những lời dặn dò và mong muốn cho tương lai của cháu. Như câu thơ "Mai sau dù có bao giờ/ Đốt lò hương ấy, so tờ phím này..." cho thấy mẹ đã chuẩn bị cho cháu một tương lai xa và muốn cháu nhớ về những lời ru của mẹ.
Câu 2. Bài thơ cho thấy Truyện Kiều đã được tiếp nhận theo những cách nào?
Trả lời: Bài thơ cho thấy Truyện Kiều đã được tiếp nhận theo cách là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa và gia đình Việt Nam. Mẹ dùng những câu Kiều để ru cháu, thể hiện rằng Truyện Kiều không chỉ là một tác phẩm văn học mà còn là một cách để kết nối các thế hệ, truyền tải giá trị văn hóa và đạo đức. Điều này thể hiện qua câu "Mẹ tôi ru cháu chiều chiều/ Thường là ru mấy câu Kiều cháu nghe".
Câu 3. Bài thơ gợi cho em suy nghĩ gì về sức sống của Truyện Kiều trong lòng người dân Việt Nam?
Trả lời: Bài thơ gợi cho em suy nghĩ rằng Truyện Kiều có sức sống mãnh liệt trong lòng người dân Việt Nam. Tác phẩm không chỉ là một câu chuyện mà còn là một phần văn hóa, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Việc mẹ dùng những câu Kiều để ru cháu cho thấy tác phẩm đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày và trong tâm hồn người Việt.
Câu 4. Em có nhận xét gì về hình thức nghệ thuật của bài thơ (thể thơ, ngôn từ, hình ảnh, cách tổ chức, sắp xếp ý thơ,...)?
Trả lời: Em có nhận xét rằng bài thơ có hình thức nghệ thuật đặc sắc với thể thơ lục bát truyền thống, ngôn từ giản dị mà sâu sắc, hình ảnh giàu cảm xúc và cách tổ chức sắp xếp ý thơ chặt chẽ. Thể thơ lục bát giúp bài thơ trở nên mềm mại và dễ nghe, trong khi ngôn từ và hình ảnh như "ru cháu chiều chiều", "ru mấy câu Kiều", "đốt lò hương", "so tờ phím" tạo nên không gian văn hóa ấm áp và thân thuộc. Cách sắp xếp ý thơ theo trình tự thời gian và cảm xúc giúp người đọc dễ dàng theo dõi và cảm nhận.