Trang 114 — Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, một bài thơ tiễn biệt tiêu biểu trong thơ Đường

Câu hỏi:

  • Luận đề của văn bản.
  • Hệ thống luận điểm và cách triển khai luận điểm.
  • Cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ luận điểm.
  • Ngôn ngữ nghị luận.

Câu 1.

Khi đọc văn bản dưới đây, em cần chú ý những vấn đề sau:

  • Luận đề của văn bản.
  • Hệ thống luận điểm và cách triển khai luận điểm.
  • Cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ luận điểm.
  • Ngôn ngữ nghị luận.

Trả lời: Các vấn đề cần chú ý khi đọc văn bản:

  • Luận đề của văn bản: Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, một bài thơ tiễn biệt tiêu biểu trong thơ Đường.
  • Hệ thống luận điểm và cách triển khai luận điểm.
  • Cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ luận điểm.
  • Ngôn ngữ nghị luận.

Bài thơ

Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng

(Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng)

LÝ BẠCH

Phiên âm:

Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu,
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu
Cô phàm viễn ảnh bích không tận,
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.

Dịch nghĩa:

Bạn cũ rời khỏi lầu Hoàng Hạc, ở phía tây,
Xuôi xuống Dương Châu giữa tháng Ba mùa hoa khói
Bóng cánh buồm lênh đênh xa lẫn trong khoảng không xanh biếc,
Chỉ thấy Trường Giang chảy miệt bên trời.

Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, một bài thơ tiễn biệt tiêu biểu trong thơ Đường

Trả lời: Nội dung chính của văn bản là phân tích bài thơ "Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng" của Lý Bạch, một bài thơ tiễn biệt tiêu biểu trong thơ Đường.


Trang 115 — Thơ tiễn biệt

Tuy nhiên, nội dung trang này nói về bài thơ tiễn biệt của Lý Bạch.

Trả lời:

Tuy nhiên, có thể tóm tắt nội dung chính của trang như sau:

Những cuộc đưa tiễn bao giờ cũng để lại trong lòng người đi, kẻ ở những ấn tượng và kỉ niệm khó quên. Trong xã hội xưa, khi điều kiện di lại và trao đổi thư từ còn rất khó khăn, những cuộc chia tay càng dễ để lại cho đôi bên những nỗi nhớ nhung, lo âu thấp thỏm. Đó là những lí do giải thích vì sao "thơ tống biệt", nỗi đầy đủ hơn là "thơ tổng hành tặng biệt" (thơ tiễn chân và thơ từ biệt) chiếm một tỉ lệ khá cao trong văn học cổ điển. Lý Bạch là một người giao thiệp rất rộng, tình tình hồn nhiên cởi mở, suốt đời đi lại xê dịch nên tác phẩm viết về đề tài tiễn biệt chiếm tỉ lệ rất cao trong sự nghiệp thơ văn của ông.

[…] Lần tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng, lòng nhà thơ cũng nao nức, xao động song rung động theo một kiểu khác và được biểu hiện hoàn toàn khác.

Hai câu thơ mở đầu thiên về nói tới người ra đi (Mạnh Hạo Nhiên) và tưởng thuật sự việc (nếu lên đầy đủ các yếu tố của một cuộc đưa tiễn) song trong đó vẫn chưa đựng bao niềm lưu luyến của người đưa tiễn.

Không bao lâu sau khi rời khỏi quê hương, Lý Bạch đã kết giao với Mạnh Hạo Nhiên, nhà thơ tiền bối, nhà thơ hơn mình đến hơn chục tuổi và bấy giờ danh tiếng đã lửng lẫy. Lý Bạch luôn nói về người bạn vong niên ấy với tất cả sự tôn kính và ngưỡng mộ:

Ngô ái Mạnh phu tử,

Phong lưu thiên hạ văn…

(Ta yêu Mạnh phu tử đã nổi tiếng phong lưu khắp thiên hạ…)

Mối quan hệ đặc biệt thân tình ấy đã thể hiện đầy đủ, sinh động qua chỉ một từ “cố nhân". Lý Bạch là “chủ" tiễn khách song không phải là tiễn khách tại nhà mình, quê mình, thậm chí cũng không phải là nơi nhiệm sở như trường hợp Bạch Cư Dĩ ở Tứ bà hành mà là tiễn khách nơi đất khách, ở một điểm dừng chân trên bước đường ngao du, hơn nữa, lại là một thắng tích nổi tiếng gắn với những truyền thuyết từng làm xao động tâm hồn bao thế hệ. Cuộc tiễn chân diễn ra giữa thanh thiên bạch nhật, trong


Trang 116 — (Không rõ tên bài/chương/tác phẩm)

Không có câu hỏi rõ ràng trong trang này. Trang này chủ yếu là phần phân tích và giải thích về một đoạn văn trong tác phẩm của Lý Bạch.

Tuy nhiên, nếu cần rút ra những ý chính, có thể trả lời như sau:

Câu hỏi tự suy luận:

  • Nêu những ý chính về phân tích cách mở đầu bài thơ của Lý Bạch.

Trả lời: Lý Bạch mở đầu bài thơ với hình ảnh "không khí cực kì phồn vinh của xã hội Thịnh Đường" và khung cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, tạo nên một hình ảnh lãng mạn, tươi sáng. Qua hai câu thơ đầu, ta thấy được sự kết hợp giữa việc miêu tả cảnh và thể hiện tâm trạng, cảm xúc của nhà thơ.

  • "Nhiều bài trường thi, ca hành của Lý Bạch thường hạ bút vàng vạo lối, khí thế khác thường, đem đến sức truyền cảm nghệ thuật kinh hồn bát vía cho người đọc. Song phần mở đầu thơ tuyệt của ông lại thường bình dị tự nhiên, chẳng có gì đột ngột, gần gũi, tựa như nhìn không thấy sự suy nghĩ quá sâu xa, tinh tường."

  • Nhà thơ thường chỉ thuật một cách giản đơn hoàn cảnh hoặc nguyên do sự việc mà thôi.

  • Bài thơ cũng không phải là ngoại lệ. Ngôn từ không chỉ bình dị tự nhiên mà lại còn sát hợp. Các dòng sông lớn ở Trung Quốc thường chảy theo hướng tây – đông, Hoàng Hạc lâu lại ở phía trên dòng nên đặt trạng ngữ "tây" trước động từ "từ", dùng động từ "hạ" trước Dương Châu là rất chuẩn xác.

  • Động từ "từ" (từ biệt) được sử dụng khá đắt, mang sắc thái biểu cảm và có tác dụng gợi cảm cao. Tác giả nói mình đưa tiễn "cố nhân" song không nói cố nhân từ giả mình mà lại nói "từ biệt lâu Hoàng Hạc". Như vậy, vừa kết hợp xác định địa điểm đưa tiễn, vừa đem lại cho bản thân hình ảnh lâu Hoàng Hạc một ý nghĩa hoàn dụ, lại vừa gợi cho độc giả liên tưởng tới động tác, tâm tư của cả người đi, kẻ ở.


Trang 115 — (Không rõ tên bài/chương/tác phẩm)

Câu hỏi tự đặt ra:

  • Nội dung chính của đoạn văn trên là gì?

Trả lời: Nội dung chính của đoạn văn trên là phân tích và cảm nhận về những câu thơ liên quan đến tình cảm biệt ly, đặc biệt là cách các nhà thơ cổ điển như Lý Bạch, Hứa Hồn, và Lao Lao đình thể hiện nỗi đau xót của tình li biệt qua hình ảnh thiên nhiên.


Câu hỏi tự đặt ra:

  • Ý nghĩa của việc so sánh "tình ý biệt li" với "dòng nước chảy về đông" và "bờ bên nào ngắn, bên nào dài" trong thơ là gì?

Trả lời: Việc so sánh "tình ý biệt li" với "dòng nước chảy về đông" và "bờ bên nào ngắn, bên nào dài" trong thơ nhằm thể hiện sự vô hạn của nỗi buồn biệt ly và sự không xác định được chiều dài, ngắn của cảm xúc khi phải chia xa. Điều này gợi cảm giác về sự mênh mông, khó đo lường của tình cảm con người khi đối mặt với sự chia ly.


Câu hỏi tự đặt ra:

  • Tại sao tác giả cho rằng "cả sông Trường Giang, cả bầu trời đều không thể so sánh với nó mà nó hòa tan man mác vào cả bầu trời mông mênh, vào cả dòng sông bất tận, vào cả vũ trụ bao la và cuối cùng cả bầu trời và dòng sông cũng đã hòa nhập làm một"?

Trả lời: Tác giả cho rằng "cả sông Trường Giang, cả bầu trời đều không thể so sánh với nó" vì tình cảm biệt ly trong thơ Lý Bạch đã đạt đến mức độ hòa quyện với không gian và thời gian, trở thành một phần của vũ trụ bao la. Điều này thể hiện sự rộng lớn, sâu sắc và không thể đo lường của tình cảm con người.


Câu hỏi tự đặt ra:

  • Những thủ pháp nghệ thuật nào thường được sử dụng trong thơ cổ điển khi viết về tình cảm biệt ly?

Trả lời: Những thủ pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong thơ cổ điển khi viết về tình cảm biệt ly bao gồm:

  • So sánh: Ví dụ như so sánh tình ý biệt ly với "dòng nước chảy về đông" và "bờ bên nào ngắn, bên nào dài".
  • Hoán dụ: Lấy cảnh thiên nhiên để biểu đạt cảm xúc con người, như "gió xuân xót li biệt".
  • Phép ẩn dụ: Gợi tả nỗi đau xót của tình li biệt qua hình ảnh vô tri như gió xuân, dòng sông.

Câu hỏi tự đặt ra:

  • Ý nghĩa của câu thơ “Li tâm bất di Tây Giang thủy, Trực tống chinh phàm vạn lý hành” là gì?

Trả lời: Câu thơ “Li tâm bất di Tây Giang thủy, Trực tống chinh phàm vạn lý hành” có nghĩa là "Trái tim chia ly không theo kịp dòng nước sông Tây Giang, vẫn tiễn mãi cánh buồm chinh phục muôn dặm đường". Điều này thể hiện sự đau xót của người chia ly và sự vô lực của cảm xúc khi phải tiễn đưa người đi xa.