Trang 116 — Phân tích tác phẩm
Không có câu hỏi trong trang, nhưng có một đoạn văn phân tích tác phẩm.
Tuy nhiên, có thể xác định một số luận điểm và dẫn chứng trong đoạn văn trên:
Hai câu thơ đầu tiên đã vẽ ra một cảnh tượng mênh mông, song đồng thời cũng khắc họa được những đường nét tinh tế. Từ bản thân “chiếc buồm cô độc”, đến “bóng” của nó, đến bóng “xa”... xa dần của nó cho đến lúc nó mất hút vào bầu trời bát ngát là cả một quá trình, quá trình chuyển dịch ngày càng xa của con thuyền và quá trình ngóng trông theo dõi với vời của cặp mắt người đưa tiễn. Thuyền đã mất hút song người tiễn đưa vẫn còn đứng đó, chớ vội, đơn côi trên lầu Hoàng Hạc. Chiếc buồm hắt là màu trắng; mảng trắng, vết trắng rợi điểm trắng ấy, dưới bầu trời biếc, trên dòng nước mùa xuân trong xanh hẳn là “mục tiêu” để thấy, để tăng cường thị lực Lý Bạch, song quan trọng hơn là từ phía Lý Bạch, dẫu thơ Thịnh Đường thuyền bè đi lại trên sông Trường Giang tấp nập như là tre, tất cả thị lực của Lý Bạch chỉ đặt vào ở một điểm duy nhất đó mà thôi!
Hai câu cuối, bên ngoài như vẫn tiếp tục nói về người ra đi song thực chất đã chuyển sang nói tâm tình người ở lại. Bên ngoài như là thơ tả cảnh thuần túy – mà xét về yêu cầu tả cảnh cũng đạt mức xuất sắc – song thực chất là tả tình.
Hàm sức, khêu gợi, tài ngôn ngoại, lời can : sâu, lấy cảnh nói tình, từ nhỏ thấy lớn... tất cả những đặc trưng thi pháp ấy của thơ Đường nói chung, của thơ tuyệt cú nói riêng, chúng ta đều có thể tìm thấy trong sự thể hiện mẫu mực ở Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng của Lý Bạch.
Trang 117 — Đối diện với nỗi đau
Tuy nhiên, nội dung trang 117 là phần "Bài 5: Đối diện với nỗi đau" với các mục:
- Giới thiệu bài học
- Yêu cầu cần đạt
Dưới đây là nội dung liên quan:
Giới thiệu bài học
Cuộc sống có niềm vui, nỗi buồn, nụ cười, nước mắt... Có những lúc, con người phải đối mặt với thử thách, rơi vào màu trắng khó giải quyết, chịu đựng đau đớn và mất mát. Văn học, bằng cách thể hiện những tình thế gay gắt, những sự việc bi thảm... đã khơi dậy nỗi xúc động thông thiết, đem đến những trải nghiệm căng thẳng và lo âu sâu sắc cho người đọc. Qua đó, văn học đồng thời hướng ta đến những tình cảm nhân văn cao cả, thôi thúc ta hành động tích cực, xứng đáng với hai chữ Con Người.
Các kịch bản thuộc thể loại bi kịch và truyện ngắn kết nối với chủ đề trong bài học này thể hiện những tình huống đau đớn của con người, giúp em nhận diện sự phong phú, phức tạp của cuộc sống. Niềm thương cảm và nỗi khiếp sợ sẽ gợi ra cho em những suy tư về khả năng loại bỏ những điều tương tự trong các quan hệ đời sống.
Yêu cầu cần đạt
- Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của bi kịch như: xung đột, hành động, cốt truyện, nhân vật, lời thoại.
- Nêu được những thay đổi trong suy nghĩ, tình cảm, lối sống và cách thưởng thức, đánh giá của cá nhân do văn bản đã học mang lại.
- Nhận biết được đặc điểm của câu rút gọn, câu đặc biệt và hiểu được chức năng của các loại câu này để sử dụng một cách hiệu quả.
- Viết được bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học: phân tích nội dung chủ đề, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm và hiệu quả thẩm mĩ của nó.
- Biết thảo luận về một vấn đề đáng quan tâm trong đời sống phù hợp với lứa tuổi.
- Coi trọng những giá trị nhân văn cao đẹp; lựa chọn hành động và cách ứng xử phù hợp để có được hạnh phúc chân chính.
Do không có câu hỏi cụ thể trong trang, nên không có câu trả lời chi tiết.
Trang 118 — TRI THỨC NGỮ VĂN
Câu X. Bi kịch là gì?
Trả lời: Bi kịch là một thể loại của kịch, thể hiện xung đột không thể giải quyết giữa khát vọng cao đẹp của con người với khả năng, tình thế thực hiện. Xung đột bi kịch này sinh do mâu thuẫn giữa cái thiện với cái ác, cái cao cả với cái thấp hèn, cái mới với cái cũ, cái tiến bộ với cái phản tiến bộ, giữa các mặt khác nhau của tính cách, giữa mong muốn chủ quan và điều kiện khách quan, giữa các giá trị khác nhau của đời sống,... Các xung đột này tạo nên bởi hành động có ý thức của nhân vật trong việc thực hiện cái tốt, yếu mà nó tự thấy trước là không tránh khỏi bi hoa. Qua hành động, nhân vật bộc lộ tính cách, phẩm chất của mình. Nhân vật bi kịch có sức mạnh lớn lao, phẩm chất cao cả, mang trong mình những lí tưởng, khát vọng đẹp... nhưng phải đối mặt với số phận nghiệt ngã, những quyết định khó khăn, sự không thuận lợi của hoàn cảnh,... Lời thoại của nhân vật thường thể hiện sự căng thẳng, những giằng xé nội tâm, có tính hùng biện, triết lí, hoặc có tính chất mỉ lệ, trau chuốt,...
Câu X. Đề tài của bi kịch thường lấy từ đâu?
Trả lời: Đề tài của bi kịch thường mượn từ lịch sử hay huyền thoại, để cập những vấn đề lớn, có tính vĩnh cửu của cuộc sống con người. Cốt truyện của bi kịch biểu thị chuỗi hành động tuân theo quy tắc nhân quả, dẫn tới kết cục bi thảm của nhân vật chính. Kết thúc bi thảm của nhân vật có ý nghĩa thức tỉnh, dự báo về một cái gì tốt đẹp hơn sẽ nảy sinh trong cuộc sống và trong mỗi con người.
Câu X. Câu rút gọn và câu đặc biệt là gì?
Trả lời:
Câu rút gọn:
- Là câu có thành phần câu (thường là thành phần chính) bị tình lược.
- Việc tỉnh lược chủ yếu do phương châm tiết kiệm trong việc sử dụng ngôn ngữ, nhất là khi nói (lược bỏ những thông tin đã biết hoặc bị coi là lập, thừa), hoặc do dụng ý của người sử dụng (không muốn nêu rõ sự vật, sự việc nào đó trong câu).
Câu đặc biệt:
- Là câu không được cấu tạo theo mô hình câu hai thành phần, thường dùng để gọi - đáp; nhấn mạnh cảm xúc; liệt kê, thông báo về sự tồn tại của sự vật, hiện tượng; xác định thời gian, nơi chốn diễn ra sự việc.
Trang 119 — Rô-mê-ô và Giu-li-ét
Câu hỏi:
- TRƯỚC KHI ĐỌC: Tình yêu là đề tài phổ biến trong văn học, nghệ thuật. Hãy chia sẻ suy nghĩ của em về một tác phẩm viết về đề tài này.
- CHÚ Ý: Lời thoại của hai nhân vật có gì đặc biệt?
TRƯỚC KHI ĐỌC
Tình yêu là một đề tài phổ biến trong văn học, nghệ thuật. Một tác phẩm nổi tiếng viết về đề tài này mà em biết là "Truyện Kiều" của Nguyễn Du. Trong tác phẩm này, tình yêu giữa Thúy Kiều và Kim Trọng là một bi kịch, thể hiện sự éo le của số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
CHÚ Ý
Lời thoại của hai nhân vật Rô-mê-ô và Giu-li-ét có đặc biệt ở chỗ:
Rô-mê-ô:
- "Kẻ chưa từng bị thương thì há sợ gì sẹo!"
- → Thể hiện sự can đảm, liều lĩnh và tình yêu mãnh liệt của Rô-mê-ô.
Giu-li-ét:
- Xuất hiện trên cửa sổ với ánh sáng mặt trời, được Rô-mê-ô ví như "mặt trời".
- → Lời thoại mang tính chất thi ca, lãng mạn, biểu đạt tình cảm qua hình ảnh ẩn dụ.
Lời thoại của họ không chỉ thể hiện tình yêu sâu sắc mà còn chứa đựng những so sánh, hình ảnh giàu tính biểu cảm, tạo nên sự thiêng liêng và mãnh liệt của tình yêu giữa hai nhân vật.