Trang 87 — CON NGƯỜI TRONG THẾ GIỚI KÌ ẢO

Câu hỏi:

Yêu cầu cần đạt

  • Nhận biết và phân tích được một số yếu tố trong truyện truyền kì như: không gian, thời gian, chi tiết, cốt truyện, nhân vật chính, lời người kể chuyện.
  • Nhận biết và phân biệt được lời người kể chuyện và lời nhân vật; lời đối thoại và lời độc thoại trong văn bản truyện.
  • Nêu được nội dung bao quát của văn bản; bước đầu biết phân tích các chi tiết tiêu biểu, đề tài, câu chuyện, nhân vật trong tính chỉnh thể của tác phẩm.
  • Nêu được những thay đổi trong suy nghĩ, tình cảm, lối sống và cách thưởng thức, đánh giá của cá nhân do văn bản đã học mang lại.
  • Nhận biết và phân tích được sự khác nhau giữa cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp; cách dùng dấu câu khi dẫn trực tiếp và gián tiếp.
  • Viết được một truyện kể sáng tạo, có thể mô phỏng một truyện đã đọc; sử dụng các yếu tố miêu tả và biểu cảm trong truyện.
  • Biết kể một câu chuyện tưởng tượng (có bối cảnh, nhân vật, cốt truyện,...).
  • Biết cảm thông, chia sẻ với người khác; phát huy được khả năng tưởng tượng trong học tập và trong đời sống.

Trả lời: Các yêu cầu trên giúp học sinh hiểu rõ về các kĩ năng cần đạt được khi học thể loại truyện truyền kì.


Câu hỏi trong phần "Chân trời sáng tạo"

Câu hỏi: Những câu chuyện kì lạ về con người trong thế giới kì ảo có thể mang lại cho ta những bài học gì?

Trả lời: Những câu chuyện kì lạ về con người trong thế giới kì ảo có thể mang lại cho ta những bài học về:

  • Sống thực tại và cuộc đời thực
  • Số phận, nhân cách của con người trước những khó khăn, thách thức
  • Phát huy trí tưởng tượng và rèn luyện kĩ năng đọc hiểu một văn bản thuộc thể loại truyện truyền kì.

Tuy nhiên, ta có thể dựa vào nội dung để đưa ra các câu hỏi và trả lời như sau:

Câu 1. Thế nào là truyện truyền kì?

Trả lời: Truyện truyền kì là một thể loại văn xuôi tự sự thời trung đại, phản ánh hiện thực qua những yếu tố kì lạ, hoang đường.

Câu 2. Nêu các đặc điểm của truyện truyền kì.

Trả lời: Đặc điểm của truyện truyền kì thể hiện qua các yếu tố: không gian, thời gian, nhân vật, cốt truyện, lời của người kể chuyện và lời của nhân vật.

Câu 3. Nêu đặc điểm của không gian truyện truyền kì.

Trả lời: "Trong truyện truyền kì, thế giới con người và thế giới thánh thần, ma, quỷ có sự tương giao. Điều này làm nên đặc điểm riêng cho không gian truyện truyền kì - không gian giàu yếu tố kì ảo."

Câu 4. Nêu đặc điểm của thời gian truyện truyền kì.

Trả lời: "Cơ sự khác biệt về thời gian ở cõi trần với cõi âm ti, thủy phủ hoặc nơi thưởng giới (biểu hiện qua nhịp độ nhanh chậm của thời gian); con người có thể sống nhiều đời, nhiều cuộc đời hoặc sống nhờ các phép thuật kì ảo."

Câu 5. Nhân vật trong truyện truyền kì gồm những loại nào?

Trả lời: Nhân vật trong truyện truyền kì:

  • Nhân vật có thể là con người hay thánh linh, ma, quỷ,...
  • Nếu nhân vật là con người, họ thường có nét đặc biệt nào đó;
  • Nếu nhân vật là thánh linh, ma, quỷ, họ thường mang hình ảnh, tính cách của con người.

Câu 6. Cốt truyện trong truyện truyền kì thường có đặc điểm gì?

Trả lời: "Truyện truyền kì thường sử dụng yếu tố kì ảo tạo nên những biến đổi bất ngờ và hợp lí hoá những điều ngẫu nhiên, bất bình thường trong cốt truyện."

Câu 7. Lời của người kể chuyện trong truyện truyền kì có đặc điểm gì?

Trả lời: "Lời của người kể chuyện trong truyện truyền kì là lời kể của một người biết hết mọi chuyện ở trần gian, địa phủ, thượng giới; mọi hành động, suy nghĩ của nhân vật. Lời của người kể chuyện thường chiếm tỉ lệ cao trong văn bản."

Câu 8. Lời đối thoại và độc thoại trong văn bản truyện có đặc điểm gì?

Trả lời:

  • Lời đối thoại trong văn bản truyện là lời thoại giữa các nhân vật, thể hiện nội dung giao tiếp của họ trong sự luân phiên (người nói và người nghe) đối vai cho nhau.
  • Lời độc thoại trong văn bản truyện là lời nhân vật tự nói với mình, thường dưới dạng lời nói thầm trong đầu (độc thoại nội tâm).

Trang 91 — Chuyện người con gái Nam Xương

Câu hỏi:

  • Câu hỏi trong phần "Chuẩn bị đọc":
    • "Nêu một số chi tiết kì ảo trong các truyện kể dân gian mà em đã đọc và cho biết yếu tố đó thường được sử dụng trong các trường hợp nào và với mục đích gì?"

Câu hỏi từ phần "Chuẩn bị đọc"

Câu hỏi: Nêu một số chi tiết kì ảo trong các truyện kể dân gian mà em đã đọc và cho biết yếu tố đó thường được sử dụng trong các trường hợp nào và với mục đích gì?

Trả lời: Một số chi tiết kì ảo trong các truyện kể dân gian mà em đã đọc:

  • Trong truyện "Thạch Sanh":

    • Chi tiết kì ảo: Chằn tinh có phép thuật, đánh đàn trong ngục, đánh đàn trên sông Hoàng Giang, người khổng lồ và đại bàng.
    • Mục đích:
      • Tạo ra tình huống bất ngờ, hấp dẫn.
      • Thể hiện sức mạnh chính nghĩa của Thạch Sanh.
  • Trong truyện "Cáo và Thỏ":

    • Chi tiết kì ảo: Thỏ nhờ các loài vật đào đường để thoát.
    • Mục đích: Tạo tình huống hài hước, châm biếm.
  • Trong truyện "Ông lão đánh cá và con cá vàng":

    • Chi tiết kì ảo: Cá vàng có thể nói và làm phép cho ông lão đánh cá.
    • Mục đích: Thể hiện ước mơ của người lao động về công lí và hạnh phúc.

Kết luận: Các yếu tố kì ảo thường được sử dụng trong truyện dân gian nhằm:

  • Tạo ra tình huống bất ngờ, hấp dẫn người nghe.
  • Thể hiện ước mơ, mong muốn của con người về công bằng, chính nghĩa.
  • Tăng tính giải trí và giá trị nghệ thuật của câu chuyện.

Trang 90 — Truyện Kiều

Câu hỏi: Những từ ngữ nào trong đoạn này gợi lên đặc điểm, tính cách của Vũ Nương, Trương Sinh?

Trả lời: Các từ ngữ gợi lên đặc điểm, tính cách của Vũ Nương, Trương Sinh:

  • Vũ Nương:

    • "giữ gìn khuôn phép" → biết vâng lời, giữ khuôn phép, sống đúng mực.
    • "không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa" → luôn biết cách giữ hòa khí trong gia đình.
    • Lời nói tiễn chồng đi đánh giặc: "Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi" → Hiểu được khó khăn của cuộc chiến, biết lo lắng và chỉ mong muốn chồng bình an trở về.
  • Trương Sinh:

    • "con nhà hào phú nhưng không có học" → ít học, không hiểu được điều sâu xa.

→ Những từ ngữ này giúp khắc họa rõ nét tính cách của Vũ Nương (hiền thục, đảm đang, giàu lòng vị tha) và Trương Sinh (ít học, có tính đa nghi).