Trang 8 — Bài 1: Thế giới kì ảo

Câu hỏi trong phần "YÊU CẦU CẦN ĐẠT":

  1. Nhận biết và phân tích được một số yếu tố trong truyện truyền kì như: không gian, thời gian, chi tiết, cốt truyện, nhân vật chính, lời người kể chuyện.

Trả lời:

  • Không gian: Thường là không gian tưởng tượng, hư ảo, có thể là thế giới thần tiên, ma quỷ, hoặc những nơi không thực tế.
  • Thời gian: Thời gian trong truyện truyền kì thường không cụ thể, mang tính chất hư ảo.
  • Chi tiết: Các chi tiết thường kì lạ, độc đáo, mang tính chất siêu nhiên.
  • Cốt truyện: Cốt truyện thường xoay quanh các sự kiện bất thường, có yếu tố kì dị.
  • Nhân vật chính: Thường là những người bình thường nhưng gặp phải những điều kì lạ, hoặc chính là những nhân vật có tính chất siêu nhiên.
  • Lời người kể chuyện: Lời kể thường mang tính chất truyền miệng, gần gũi.

  1. Nêu được nội dung bao quát của văn bản; bước đầu biết phân tích các chi tiết tiêu biểu, đề tài, câu chuyện, nhân vật trong tính chỉnh thể của tác phẩm.

Trả lời:

  • Nội dung bao quát: Văn bản giới thiệu về những yếu tố cơ bản của truyện truyền kì và cách phân tích chúng.
  • Chi tiết tiêu biểu: Các chi tiết như không gian, thời gian, nhân vật, sự kiện trong truyện.
  • Đề tài: Thường là những câu chuyện kì lạ, hư ảo.
  • Câu chuyện: Là những câu chuyện hư cấu, có tính chất kì dị.
  • Nhân vật: Nhân vật trong truyện truyền kì thường có tính chất đặc biệt.

  1. Vận dụng được một số hiểu biết về lịch sử văn học Việt Nam để đọc hiểu văn bản văn học.

Trả lời:

  • Hiểu biết về lịch sử văn học Việt Nam giúp người đọc nhận biết được bối cảnh văn hóa, xã hội khi tác phẩm được sáng tác.
  • Giúp phân tích các yếu tố văn hóa, tín ngưỡng trong tác phẩm.

  1. Nhận biết được điển tích, điển cố và phân tích được tác dụng của chúng; nhận biết được sự khác biệt về nghĩa của một số yếu tố Hán Việt dễ nhầm lẫn.

Trả lời:

  • Điển tích, điển cố: Là những câu chuyện, sự kiện lịch sử hoặc văn học được sử dụng trong tác phẩm để gợi ý nghĩa sâu sắc hơn.
  • Tác dụng: Giúp làm giàu thêm ý nghĩa của tác phẩm, tạo sự liên kết với người đọc.

  1. Viết được bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết; trình bày được giải pháp khả thi và có sức thuyết phục.

Trả lời:

  • Bài văn nghị luận cần có lập luận rõ ràng, dẫn chứng cụ thể.
  • Giải pháp cần phù hợp với vấn đề và có tính thực tế.

  1. Trình bày được ý kiến về một sự việc có tính thời sự.

Trả lời:

  • Cần thu thập thông tin, lập luận rõ ràng.
  • Trình bày ý kiến một cách mạch lạc, có lí lẽ.

  1. Trung thực trong các mối quan hệ ứng xử; yêu quý, trân trọng những con người có phẩm chất tốt đẹp.

Trả lời:

  • Trung thực là nền tảng của các mối quan hệ xã hội.
  • Yêu quý và trân trọng những người có phẩm chất tốt đẹp giúp xây dựng xã hội tích cực.

Trang 9 — TRI THỨC NGỮ VĂN

Câu hỏi: (không có câu hỏi rõ ràng trong trang này)

Trả lời: Trang này cung cấp thông tin về truyện truyền kì và một số khái niệm liên quan như điển tích, điển cốsự khác biệt về nghĩa của một số yếu tố Hán Việt dễ nhầm lẫn.

1. Truyện truyền kì

  • Định nghĩa:

    "Truyện truyền kì là thể loại văn xuôi tự sự, phát triển mạnh mẽ từ thời trung đại, dùng yếu tố kì ảo làm phương thức nghệ thuật để phản ánh cuộc sống."

  • Cốt truyện:

    "Cốt truyện: Truyện truyền kì có khi mượn cốt truyện dân gian hoặc đã sử lưu truyền rộng rãi trong nhân dân; có khi mượn từ truyện truyền kì ở Trung Quốc."

  • Nhân vật:

    "Thế giới nhân vật trong truyện truyền kì khá đa dạng, phong phú, trong đó nổi bật nhất là ba nhóm: thần tiên, người trần và yêu quái."

  • Không gian và thời gian:

    "Không gian trong truyện truyền kì thường có sự pha trộn giữa cõi trần, cõi tiên, cõi âm, không tách biệt mà liên thông với nhau."

  • Ngôn ngữ:

    "Truyện truyền kì sử dụng nhiều điển tích, điển cố."

2. Điển tích, điển cố

  • Điển tích:

    "Điển tích là câu chuyện trong sách xưa, được dẫn lại một cách cô đọng trong văn bản của các tác giả đời sau."

  • Điển cố:

    "Điển cố là sự việc hay câu chữ trong sách xưa, được dẫn lại trong văn bản của các tác giả đời sau."

  • Vai trò:

    "Những tích truyện, kinh sách, từ ngữ, lời thơ, ... khi đã thành điển tích, điển cố đều được xem là mẫu mực, giàu nghĩa, cho nên các tác giả thường sử dụng để gia tăng tính hàm súc, uyên bác, gợi liên tưởng phong phú cho người đọc."

3. Sự khác biệt về nghĩa của một số yếu tố Hán Việt dễ nhầm lẫn

  • Nội dung trang này không ghi rõ câu hỏi mà chỉ cung cấp thông tin về sự khác biệt.

Kết luận: Trang này chủ yếu cung cấp tri thức về thể loại truyện truyền kì và một số khái niệm văn học liên quan.


Trang 10 — Chuyện người con gái Nam Xương

Câu 1. Em biết gì về vị thế của người phụ nữ Việt Nam trong thời phong kiến?

Trả lời: Người phụ nữ Việt Nam trong thời phong kiến thường bị hạn chế nhiều quyền lợi và tự do. Họ thường phải tuân theo các quy tắc và chuẩn mực xã hội nghiêm ngặt, như "tam tòng" (ở nhà thì phải nghe theo cha, đi ra ngoài thì phải nghe theo chồng, chồng chết thì phải nghe theo con). Vị thế của họ trong gia đình và xã hội thường không cao, bị giới hạn trong các vai trò truyền thống như người nội trợ, chăm sóc gia đình.

Câu 2. Em có ấn tượng sâu sắc với tác phẩm nào viết về người phụ nữ? Hãy chia sẻ ấn tượng đó của em.

Trả lời: Em có ấn tượng sâu sắc với tác phẩm "Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ. Ấn tượng của em là sự thông minh, hiền thục, đảm đang của Vũ Thị Thiết nhưng lại chịu nhiều oan uổng. Nàng là người "tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp". Những phẩm chất tốt đẹp của nàng khiến em cảm phục.

Đọc văn bản

Chuyện người con gái Nam Xương (Nam Xương nữ tử truyện)

VŨ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tỉnh đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp. Trong làng có chàng Trương Sinh, mến vì dung hạnh, xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về.

Song Trương có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức. Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không tùng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa. Cuộc sum vầy chưa được bao lâu thì xảy ra việc triệu đình bắt linh đi đánh giặc Chiêm. Trương tuy con nhà hào phú nhưng không có học, nên tên phải ghi trong sổ lính đi vào loại đầu. Buổi ra đi mẹ chàng có dặn rằng:

  • "Nay con phải tàm ra tòng quân, xa lia dưới gối. Tuy hội công danh từ xưa ít gặp, nhưng trong chỗ binh cách phải biết giữ mình làm trọng, gặp khó nên lui, lường sức mà tiến, đừng nên tham miếng mồi thơm để mắc vào cạm bẫy. Quan cao tước lớn nhường để người ta. Có như thế, mẹ ở nhà mới khỏi lo lắng vì con được."