Trang 88 — Khám phá vẻ đẹp văn chương

Câu 1. Người đọc phải tự mình khám phá bộ mặt nằm ngay trong văn bản và hoạt động này tương đương với việc họ đem lại ý nghĩa cho văn bản. (Uốp-phơ-gang I-xơ)

Trả lời: Câu nói trên của Uốp-phơ-gang I-xơ muốn nhấn mạnh vai trò chủ động của người đọc trong việc khám phá và tìm hiểu ý nghĩa của một văn bản. Tác giả cho rằng ý nghĩa của văn bản không chỉ nằm trên bề mặt ngôn từ mà còn ẩn chứa sâu xa, đòi hỏi người đọc phải tự mình khám phá, giải mã.

Câu 2. Tác phẩm văn học là thế giới của cái đẹp, vậy gọi người đọc khám phá. Cái đẹp đó thường được thể hiện kín đáo trong ngôn từ, hình tượng, trong các thủ pháp nghệ thuật,... Để chạm tới được vẻ đẹp của văn chương, người đọc có thể tiếp cận bằng những con đường khác nhau, sử dụng những phương thức khác nhau.

Trả lời: Câu này cho thấy rằng văn học là một thế giới của cái đẹp, nhưng cái đẹp đó không phải lúc nào cũng lộ rõ mà thường được ẩn ý trong ngôn từ, hình tượng, và các thủ pháp nghệ thuật. Để tiếp cận và hiểu được vẻ đẹp ấy, người đọc có thể sử dụng nhiều cách tiếp cận và phương thức khác nhau.

Yêu cầu cần đạt

Câu 3. Nhận biết và phân tích được luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu trong văn bản.

Trả lời:

  • Luận đề: Khám phá vẻ đẹp văn chương.
  • Luận điểm chính:
    • Văn chương mang đến cho người đọc một thế giới của cái đẹp.
    • Người đọc có thể tiếp cận vẻ đẹp của văn chương bằng nhiều con đường và phương thức khác nhau.

Yêu cầu cần đạt

Câu 4. Nhận biết được vai trò của người đọc và bối cảnh tiếp nhận đối với việc đọc hiểu tác phẩm văn học; hiểu được cùng một vấn đề đặt ra trong văn bản, người đọc có thể tiếp nhận khác nhau.

Trả lời:

  • Vai trò của người đọc: Người đọc đóng vai trò chủ động trong việc khám phá ý nghĩa của văn bản. Họ không chỉ tiếp nhận thông tin sẵn có mà còn tạo ra ý nghĩa mới cho văn bản thông qua cách hiểu và cảm nhận cá nhân.
  • Bối cảnh tiếp nhận: Bối cảnh sống, kinh nghiệm cá nhân, và vốn sống của mỗi người đọc sẽ ảnh hưởng đến cách họ hiểu và tiếp nhận văn bản. Điều này dẫn đến việc cùng một vấn đề, mỗi người đọc có thể có những cách hiểu và cảm nhận khác nhau.

Yêu cầu cần đạt

Câu 5. Nhận biết được sự khác nhau giữa cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp; biết cách dùng dấu câu khi dẫn trực tiếp và gián tiếp; biết cách tham khảo, trích dẫn tài liệu để tránh đạo văn.

Trả lời:

  • Cách dẫn trực tiếp:

    • Là cách dẫn lại nguyên lời của người hoặc nhân vật khác.
    • Thường được đặt trong dấu ngoặc kép.
    • Ví dụ: "Tôi yêu em" là lời của nhân vật.
  • Cách dẫn gián tiếp:

    • Là cách thuật lại lời của người hoặc nhân vật khác nhưng không nguyên văn.
    • Không cần dấu ngoặc kép.

Yêu cầu cần đạt

Câu 6. Viết được một văn bản nghị luận phân tích một tác phẩm văn học: phân tích nội dung chủ đề, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm và hiệu quả thẩm mĩ của nó; có hiểu biết và tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ, biết cách trích dẫn văn bản của người khác.

Trả lời: Khi viết một văn bản nghị luận phân tích tác phẩm văn học, cần:

  • Xác định rõ luận đềluận điểm chính.
  • Phân tích nội dung chủ đềnghệ thuật của tác phẩm.
  • Đưa ra bằng chứng cụ thể từ tác phẩm để hỗ trợ luận điểm.
  • Trích dẫn đúng cách để tránh đạo văn.

Yêu cầu cần đạt

Câu 7. Biết thảo luận về một vấn đề đáng quan tâm trong đời sống phù hợp với lứa tuổi.

Trả lời: Thảo luận về một vấn đề trong đời sống cần:

  • Xác định rõ vấn đề cần thảo luận.
  • Lắng nghe ý kiến của nhau.
  • Trình bày quan điểm một cách rõ ràng, có lí lẽ và dẫn chứng.

Yêu cầu cần đạt

Câu 8. Yêu thích việc khám phá về đẹp văn chương, trân trọng lao động sáng tạo nghệ thuật của nhà văn.

Trả lời: Việc khám phá vẻ đẹp văn chương không chỉ giúp hiểu thêm về tác phẩm mà còn trân trọng giá trị nghệ thuật và sáng tạo của nhà văn. Điều này giúp nuôi dưỡng tình yêu văn học và cảm appreciation đối với lao động sáng tạo.


Trang 89 — TRI THỨC NGỮ VĂN

Câu 1. Văn bản nghị luận viết về tác phẩm văn học là gì?

Trả lời: Văn bản nghị luận viết về tác phẩm văn học là loại văn bản nhằm làm sáng tỏ các phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm, thể hiện quan điểm, thái độ, cách đánh giá và kiến giải của người viết về tác phẩm. Vì vậy, nó cần được triển khai theo một hệ thống luận điểm rõ ràng, mạch lạc, dựa trên bằng chứng thuyết phục.

Câu 2. Vai trò của người đọc và bối cảnh tiếp nhận đối với việc đọc hiểu văn bản là gì?

Trả lời:

  • Hoạt động đọc hiểu văn bản không thể thiếu nhân tố người đọc. Bằng sự tiếp nhận của mình, người đọc góp phần làm phong phú thêm ý nghĩa của tác phẩm văn học; tạo nên lịch sử tiếp nhận tác phẩm; tác động trở lại đối với hoạt động sáng tạo của nhà văn.
  • Bối cảnh tiếp nhận tác phẩm bao gồm: bối cảnh thời đại, xã hội và hoàn cảnh riêng của mỗi cá nhân. Bối cảnh tiếp nhận có vai trò quan trọng, chi phối hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn học, góp phần ảnh hưởng đến định hướng giá trị, trình độ tiếp nhận của người đọc. Mỗi thời đại hay mỗi xã hội đều có định hướng giá trị riêng, có mặt bằng trình độ tiếp nhận nhất định, những điều đó có ảnh hưởng đến từng cá nhân. Bối cảnh của cá nhân cũng chi phối sự tiếp nhận của người đọc, trong đó, hoàn cảnh sống, học tập của cá nhân và cả bối cảnh cụ thể tại thời điểm đọc đều ảnh hưởng đến tâm thế tiếp nhận.

Câu 3. Thế nào là cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp?

Trả lời:

  • Cách dẫn trực tiếp là sử dụng nguyên văn từ ngữ, câu, đoạn,... của một văn bản gốc vào bài viết, bài nói. Trong bài viết, phần dẫn trực tiếp cần được đặt trong dấu ngoặc kép.
  • Cách dẫn gián tiếp là sử dụng ý tưởng của người khác và diễn đạt lại theo cách của mình. Tuy được diễn đạt lại nhưng ý tưởng trong văn bản gốc cần được thể hiện một cách trung thành. Trong bài viết, phần dẫn gián tiếp không đặt trong dấu ngoặc kép.

Câu 4. Một số lưu ý về cách tham khảo, trích dẫn tài liệu?

Trả lời: Khi viết, chúng ta cần tìm kiếm ý tưởng, thông tin từ nhiều nguồn và đưa những ý tưởng, thông tin phù hợp vào bài viết theo cách dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp. Ghi chú nguồn đúng quy cách là yêu cầu bắt buộc để tránh bị coi là đạo văn. Nguồn của tài liệu tham khảo thường bao gồm thông tin về tác giả và xuất xứ văn bản gốc. Mức độ cụ thể của thông tin về nguồn trích dẫn tùy thuộc vào tính chất của văn bản, chẳng hạn, bài nghiên cứu khoa học chuyên sâu thì thông tin về nguồn trích dẫn cần đầy đủ hơn bài viết của học sinh.


Trang 92 — Người con gái Nam Xương - một bi kịch của con người

Câu 1. Kế tên một vài tác phẩm văn học Việt Nam viết về số phận bi kịch của con người.

Trả lời: Một số tác phẩm văn học Việt Nam viết về số phận bi kịch của con người: Chuyện người con gái Nam Xương, Lục Vân Tiên, Đoàn thuyền đánh cá,...

Câu 2. Trong bài 1, em đã được học tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương. Hãy chia sẻ cảm nhận về một chi tiết mà em ấn tượng nhất trong tác phẩm.

Trả lời: Em ấn tượng nhất với chi tiết Vũ Nương tự tử. Chi tiết này thể hiện sự oan khuất và tuyệt vọng của nhân vật. Câu nói của nàng trước khi chết:

"Thiếp cũng là người có một lời nương tựa vào chàng, cuối cùng lại bị lừa. Xin chết dưới tay nàng, còn hơn sống mang tiếng."

thật bi thảm, làm nổi bật số phận oan nghiệt của Vũ Nương.

Đọc văn bản

Người con gái Nam Xương (Nam Xương nữ từ truyện) là một trong 11 truyện viết về đề tài phụ nữ của Nguyễn Dữ. Vũ Thị Thiết là nhân vật hoàn toàn có thật. Ngày nay tại Lý Nhân, Hà Nam còn đền thờ nàng. Kể từ khi nàng mất tới nay đã gần 5 thế kỉ, biết bao thế hệ, từ Lê Thánh Tông (1442 - 1497) - vị vua anh minh văn võ kiêm toàn đến các nhà khoa bảng "cười đầu thiên hạ đã ba phen" như Nguyễn Khuyến (1835 - 1909)... đều đã phải rời lệ xót thương cho thân phận nàng và gửi gắm niềm thương cảm của mình vào những bài thơ để vinh Miêu vợ chàng Trương.

(1) Người con gái Nam Xương (Nam Xương nữ từ truyện) là một trong 11 truyện viết về đề tài phụ nữ của Nguyễn Dữ. Vũ Thị Thiết là nhân vật hoàn toàn có thật. Ngày nay tại Lý Nhân, Hà Nam còn đền thờ nàng. Kể từ khi nàng mất tới nay đã gần 5 thế kỉ, biết bao thế hệ, từ Lê Thánh Tông (1442 - 1497) - vị vua anh minh văn võ kiêm toàn đến các nhà khoa bảng "cười đầu thiên hạ đã ba phen" như Nguyễn Khuyến (1835 - 1909)... đều đã phải rời lệ xót thương cho thân phận nàng và gửi gắm niềm thương cảm của mình vào những bài thơ để vinh Miêu vợ chàng Trương.

Theo dõi

Cách đặt vấn đề của tác giả.

Trả lời: Tác giả Nguyễn Đăng Na đã đặt vấn đề bằng cách:

  • Nêu rõ nguồn gốc và tính xác thực của nhân vật Vũ Thị Thiết trong Nam Xương nữ từ truyện.
  • Dẫn chứng sự thương tiếc của các vua, quan, danh nhân qua nhiều thế hệ dành cho nàng.

Cuộc đời Vũ Nương tuy ngắn ngủi, nhưng nàng đã kịp làm trọn nghĩa vụ của một kiếp đàn bà: làm con, làm dâu, làm vợ, làm mẹ. Mọi nỗi gian lao vất vả, nào khi sinh nở chẳng ai đỡ đần,

Theo dõi

Nhận xét của tác giả về cuộc đời nhân vật Vũ Nương.

Trả lời: Tác giả nhận xét:

Cuộc đời Vũ Nương tuy ngắn ngủi, nhưng nàng đã kịp làm trọn nghĩa vụ của một kiếp đàn bà: làm con, làm dâu, làm vợ, làm mẹ. Mọi nỗi gian lao vất vả, nào khi sinh nở chẳng ai đỡ đần,

→ Tác giả nhấn mạnh sự ngắn ngủi của cuộc đời Vũ Nương nhưng cũng làm nổi bật những vai trò to lớn của nàng trong gia đình.


Trang 93 — Vũ Nương

Câu hỏi:

  • Theo dõi
  • Chú ý

Câu Theo dõi. Nét tính cách của nhân vật Trương Sinh được tác giả tập trung phân tích.

Trả lời: Nét tính cách của nhân vật Trương Sinh được tác giả tập trung phân tích là sự ghen tuông vô cớ và hành động thiếu sáng suốt. Tác giả đã nhấn mạnh cách Trương Sinh suy nghĩ và hành xử khi có người đàn ông thứ hai đến nhà, và cách anh ta dễ dàng nghi ngờ và kết tội vợ mình. Điều này thể hiện qua đoạn văn:

  • "Là người cùng làng, chàng thừa biết đức hạnh của vợ. Chính vì "mến vì dung hạnh" của nàng, chàng mới "xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về". Nhưng, ghen tuông là ghen tuông! Cái tâm lí ghen tuông rất lạ. Dù mới cưới nhau mà Trương Sinh vẫn "phòng ngừa quá sức". Song, khi đó hai người còn bên nhau và "nàng cũng giữ gin khuôn phép" nên chưa xảy ra chuyện gì. Nay đã không trông về thời gian và không gian: ba năm xa cách."

Câu Chú ý. Lí lẽ và bằng chứng được tác giả sử dụng để bày tỏ suy nghĩ về nhân vật Trương Sinh.

Trả lời: Tác giả sử dụng lí lẽ và bằng chứng để bày tỏ suy nghĩ về nhân vật Trương Sinh. Lí lẽ được thể hiện qua việc phân tích tính cách và hành vi của nhân vật, như sự ghen tuông vô cớ và thiếu sáng suốt. Bằng chứng được lấy trực tiếp từ văn bản, ví dụ:

  • "Ở đây ta cũng nên có một chút cảm thông với Trương Sinh. Ba năm dài lính làm chàng mồ mỉ chán chường. Về tới nhà, lại gặp cảnh đau lòng: "Cha về, bà đã mất, lòng cha buồn khổ lắm rồi".'
  • Nỗi buồn tê tái đủ sức nâng lên trải tim anh lính Trương Sinh. Nếu như đối với Vũ Nương, chỗ dựa để có thể tồn tại là con và chồng, thì đối với Trương Sinh, chỗ dựa để sống được là con và vợ. Thế mà, hình như có một người đàn ông thứ hai nào đó rón ra rón rén lén lút vào gia đình chàng, đã chiếm mất tình cha con của chàng: "Ô hay! Thế thì ông cũng là cha ơi? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít". Đứa bé đã có hai người cha: một người xuất hiện khi chàng vắng nhà và một người là chàng. Chỗ dựa thứ nhất không còn.