Trang 94 — Vũ Nương

Câu hỏi:

Tuy nhiên, có một phần chú ý:

Chú ý

Cách tác giả phân tích chi tiết chiếc bóng trên vách - chi tiết mang tính thắt nút - mở nút.

Trả lời:

Phần chú ý này giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách tác giả phân tích chi tiết chiếc bóng trên vách trong tác phẩm. Tác giả đã sử dụng chi tiết này như một yếu tố quan trọng để phát triển cốt truyện và thể hiện chủ đề của tác phẩm.

Chi tiết "chiếc bóng trên vách" không chỉ là một hình ảnh đơn thuần mà còn mang nhiều ý nghĩa sâu sắc. Nó là một chi tiết mang tính thắt nút, giúpthúc đẩy cốt truyện đến những diễn biến quan trọng và mở ra những nút thắt trong mối quan hệ giữa các nhân vật. Đồng thời, nó cũng là một chi tiết mang tính mở nút, giúp giải quyết những mâu thuẫn và xung đột trong tác phẩm.

Như vậy, phần chú ý này đã giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách tác giả sử dụng chi tiết chiếc bóng trên vách để tạo nên một tác phẩm văn học giàu ý nghĩa.


Trang 95 — Người con gái Nam Xương

Câu hỏi 1. Vì sao tác giả cho rằng: "bi kịch của Vũ Thị Thiết một phần là do nàng"?

Trả lời: Tác giả cho rằng "bi kịch của Vũ Thị Thiết một phần là do nàng" vì:

  • Vũ Nương có phần quá sức trong việc phòng ngừa, đối với người chồng trẻ.
  • Khi chồng vắng nhà, đặc biệt vào ban đêm, nàng lại trở bóng mình mà bảo con rằng: "Đầy là cha nó. Bé Dần tin mẹ, nên tưởng cái bóng kia là cha mình thật." Điều này đã tạo ra hiểu lầm về việc Trương Sinh có người khác - một người mà mẹ chưa từng bảo là cha.

Câu hỏi 2. Nhận định của người viết về nét độc đáo của truyện truyền kỳ Nguyễn Dữ.

Trả lời: Nhận định của người viết về nét độc đáo của truyện truyền kỳ Nguyễn Dữ:

  • Là nhà văn nhân đạo, Nguyễn Dữ không muốn những người đức hạnh, nét như Vũ Nương bị chết. Song, hiện thực là hiện thực. Vũ Nương đã chết! Để mình oan và bù đắp cho lòng ngay thẳng, hiểu thảo, thủy chung của nàng, tác giả đã tưởng tượng ra [...] cảnh Vũ Nương hội ngộ với Trương Sinh.

Câu hỏi 3. Cách tác giả kết thúc vấn đề.

Trả lời: Cách tác giả kết thúc vấn đề:

  • Có thể nói, với Người con gái Nam Xương, Nguyễn Dữ đã vượt khỏi những công thức thông lệ về hình tượng người phụ nữ trong thể truyện truyền kỳ. Vũ Nương không phải là hình tượng một trinh liệt nữ, nàng chỉ là một người đàn bà bình thường như bao người vợ, người mẹ trong đời thực.
  • Phản ánh số phận Vũ Thị Thiết, Nguyễn Dữ đã đề cập tới cái bi kịch muôn thủa của con người.
  • Có lẽ vì vậy mà Người con gái Nam Xương vẫn còn sức hấp dẫn đối với người đọc ngày nay.

Trang 96 — Thực hành tiếng Việt

Câu 1. Xác định phân dẫn trong các câu sau, cho biết phân dẫn được dẫn theo cách trực tiếp hay gián tiếp. Những dấu hiệu nào giúp em nhận ra điều đó?

a. Khi chống ra đi, nàng giải bày nỗi niềm của mình: "Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu [...] chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi". (Nguyễn Đăng Na, “Người con gái Nam Xương” - một bi kịch của con người)

Trả lời:

  • Phân dẫn: "Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu [...] chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi".
  • Câu dẫn được dẫn theo cách trực tiếp vì:
    • Dấu ngoặc kép (“”) được sử dụng để trích dẫn nguyên văn lời nói của nhân vật.
    • Lời dẫn được tách ra thành một câu riêng, có dấu hai chấm (:) trước lời dẫn.

Trang 97 — Đất rừng phương Nam

Câu 2. Hãy chuyển cách dẫn trực tiếp trong các câu dưới đây sang cách dẫn gián tiếp:

a. Thủ lĩnh da đỏ Xi-át-tơn đã khẳng định: "Đối với đồng bào tôi, mỗi tấc đất thiêng liêng, mỗi lá thông óng ánh, mỗi hạt sương long lanh trong những cánh rừng rậm rạp, mỗi bãi đất hoang và tiếng thi thầm của côn trùng là những điều thiêng liêng trong kí ức và kinh nghiệm của đồng bào tôi."

Trả lời:

  • Thủ lĩnh da đỏ Xi-át-tơn đã khẳng định rằng đối với đồng bào ông, mỗi tấc đất thiêng liêng, mỗi lá thông óng ánh, mỗi hạt sương long lanh trong những cánh rừng rậm rạp, mỗi bãi đất hoang và tiếng thi thầm của côn trùng là những điều thiêng liêng trong kí ức và kinh nghiệm của đồng bào ông.

b. Nỗi oan của Vũ Nương sẽ còn đeo đẳng mãi lấy nàng, nếu như không có một đêm tin cậu đưa bé Hợi nói: "Chả đàn lại đền kia kì!"

Trả lời:

  • Nỗi oan của Vũ Nương sẽ còn đeo đẳng mãi lấy nàng, nếu như không có một đêm tin cậu đưa bé Hợi nói rằng chả đàn lại đền kia.

c. Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh đã bộc lộ thành thực một tâm trạng:

"Dẫu có ưa thơ người này người khác, mỗi lúc buồn đến, tôi lại trở về với Lưu Trọng Lư. Có những bài thơ cứ vương vấn trong trí tôi hàng tháng, lúc nào cũng như vang vẳng bên tai. Bởi vì thơ Lưu nhiều bài thực không phải là thơ, nghĩa là những công trình nghệ thuật, mà chính là tiếng lòng thầm thì cũng hòa theo tiếng thầm thì của lòng ta".

Trả lời:

  • Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh đã bộc lộ thành thực một tâm trạng rằng dẫu có ưa thơ người này người khác, mỗi lúc buồn đến, ông lại trở về với Lưu Trọng Lư. Có những bài thơ cứ vương vấn trong trí ông hàng tháng, lúc nào cũng như vang vẳng bên tai. Bởi vì thơ Lưu nhiều bài thực không phải là thơ, nghĩa là những công trình nghệ thuật, mà chính là tiếng lòng thầm thì cũng hòa theo tiếng thầm thì của lòng ta.

Câu 3. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 5 – 7 câu) có nội dung liên quan đến ý kiến dưới đây, trích dẫn ý kiến đó theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp:

Có thể nói, với “Người con gái Nam Xương”, Nguyễn Dũ đã vượt khỏi những công thức thông lệ về hình tượng người phụ nữ trong thế truyện kỉ.

Trả lời: Có thể nói, với “Người con gái Nam Xương”, Nguyễn Dũ đã vượt khỏi những công thức thông lệ về hình tượng người phụ nữ trong thế truyện kỉ. Ý kiến này cho thấy sự sáng tạo của Nguyễn Dũ trong việc xây dựng nhân vật Vũ Nương, một người phụ nữ không chỉ mang những phẩm chất truyền thống như hiền thục, đảm đang mà còn có một tâm hồn trong sáng, thủy chung. Qua tác phẩm, tác giả đã thể hiện một cái nhìn mới mẻ về người phụ nữ, vượt qua những khuôn mẫu cứng nhắc của văn học thời bấy giờ. Hình tượng Vũ Nương không chỉ là một biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam mà còn là một minh chứng cho sự bất công và oan injust đối với phụ nữ trong xã hộiphong kiến. Những chi tiết như Vũ Nương chịu đựng sự nghi ngờ của chồng, sự xa lánh của làng, và cuối cùng là cái chết đầy oan nghiệt đã làm nổi bật sự bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội. Từ đó, tác giả lên án mạnh mẽ những bất công của xã hội và đồng thời ca ngợi những phẩm chất đẹp của người phụ nữ.