Trang 109 — Nói thêm về Chuyện người con gái Nam Xương

Câu 1. Chuẩn bị

  • Xem lại phần Kiến thức ngữ văn để vận dụng vào đọc hiểu văn bản này.(*)

  • Khi đọc hiểu văn bản nghị luận văn học, các em cần chú ý:(**)

    • Xác định được luận đề và các luận điểm của bài viết.

    • Nhận biết được các lí lẽ và bằng chứng mà tác giả nêu lên để làm sáng tỏ cho mỗi luận điểm và luận đề.

    • Phân biệt được cách trình bày vấn đề khách quan và chủ quan của người viết trong văn bản.

\rightarrow

  • Các bước chuẩn bị khi đọc hiểu một văn bản nghị luận văn học:

    1. Xem lại phần Kiến thức ngữ văn: Ôn tập các khái niệm, thuật ngữ liên quan đến văn bản nghị luận, giúp vận dụng kiến thức đã học vào quá trình đọc hiểu.

    2. Xác định luận đề và các luận điểm của bài viết:

    • Luận đề: Là vấn đề chính, trọng tâm mà tác giả muốn bàn luận trong bài viết.
      • Ví dụ (giả định): "Phân tích ý nghĩa nhân đạo trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương."
    • Luận điểm: Là những ý kiến, quan điểm của tác giả nhằm làm sáng tỏ luận đề.
      • Ví dụ: "Tấm gương của người con gái Nam Xương thể hiện khát vọng lý tưởng cao cả."
    1. Nhận biết các lí lẽ và bằng chứng:
    • Lí lẽ: Là những lý do, lập luận mà tác giả đưa ra để thuyết phục người đọc.
      • Ví dụ: "Tính cách của Vũ Nương thể hiện qua lời nói, hành động, suy nghĩ."
    • Bằng chứng: Là những dẫn chứng cụ thể từ văn bản (từ ngữ, hành động, tình huống) để hỗ trợ cho lí lẽ.
      • Ví dụ: "Khi nói: ‘Cơn giận của các ngươi là tự ý, chứ không phải là lỗi của ta’," cho thấy sự khiêm tốn và lòng bao dung của Vũ Nương.
    1. Phân biệt cách trình bày vấn đề khách quan và chủ quan:
    • Khách quan: Trình bày vấn đề theo hướng trung lập, không thể hiện quan điểm cá nhân.
      • Ví dụ: Tóm tắt nội dung Chuyện người con gái Nam Xương theo đúng thứ tự sự việc.
    • Chủ quan: Trình bày vấn đề theo quan điểm, cảm nhận, đánh giá cá nhân của người viết.
      • Ví dụ: "Qua nhân vật Vũ Nương, Nguyễn Dữ đã thể hiện sự trân trọng sâu sắc đối với người phụ nữ."

Trang 109 — Nói thêm về "Chuyện người con gái Nam Xương"

1. Với loại "thiên cổ kì bút" như Chuyện người con gái Nam Xương trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, đã được phân tích, đánh giá nhiều nhưng thiết nghĩ vẫn có điều cần nói thêm. [...]

**2. Trong Chuyện người con gái Nam Xương, hình tượng trung tâm là Vũ Nương đã được xây dựng với tính cách một phụ nữ đẹp người, đặc biệt là đẹp nết nhưng lại phải chịu một nỗi oan khiến tày trời. Nàng là hiện thân khổ đau của người phụ nữ trong xã hội xưa. Nói thế hoàn toàn không sai nhưng chưa đủ để phân biệt giá trị của Chuyện người con gái Nam Xương với các tác phẩm khác cùng nói về phẩm chất tốt đẹp và nỗi khổ của người phụ nữ thời đó. Muốn thấy cái độc đáo và cũng là cao siêu của Chuyện người con gái Nam Xương, phải nói thêm điều này. Đó là cái mong manh vô cùng mong manh, mong manh tới độ với tư duy thông thường, trên thế gian này, chẳng ai có thể nghĩ tới. Nhưng đó là sự thật. Sự thật quá u khắc nghiệt đối với hạnh phúc của đàn bà, chẳng riêng gì ở Việt Nam thời phong kiến, mà còn là với nữ giới muôn nơi, muôn thuở. Cứ đọc kĩ Chuyện người con gái Nam Xương thì thấy rõ. Có đúng là sự tan nát hạnh phúc của Vũ Nương đã bắt đầu từ cái bóng của chính Vũ Nương không? Chồng đi chiến trận, "Ngày thường trong một mình, nàng hay dằn vặt, con, trò bóng mình mà bảo là cha Đàn." Cái bóng là gì? tích là những chi tiết nào?

Trả lời:

  • Câu hỏi đặt ra là: "Cái bóng là gì? tích là những chi tiết nào?"
  • Cái bóng của Vũ Nương là hình ảnh của người cha trong gia đình, mà cụ thể là hình ảnh của chồng nàng, khi ông đi chiến trận và để lại vợ con một mình.
  • Chi tiết liên quan:
    • "Ngày thường trong một mình, nàng hay dằn vặt, con, trò bóng mình mà bảo là cha Đàn."

**3. Nếu không phải là một biểu tượng của sự đồng nhất mình với chồng. Kim – Kiều yêu nhau. Nguyễn Du đã có một cách nói đến mức sơn cùng thủy tận về chữ "đồng" trong tình yêu: "Trăm năm trong cõi người ta/Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau". Nguyễn Dữ trước Nguyễn Du, trong Chuyện người con gái Nam Xương, lấy cái bóng của Vũ Nương để nói là cha Đàn, tức là chồng mình, kể cũng là một cách nói sơn cùng thủy tận về chữ "đồng" trong đạo vợ chồng. Vậy mà có ai ngờ rằng đời Vũ Nương tan nát bắt đầu từ đấy. Tan nát đến mức thánh thần, Trời Phật cũng chỉ có thể an ủi, bù đắp chút ít chứ không cứu lại được. Rồi nữa, tham gia vào việc phá nát hạnh phúc của Vũ Nương là ai? Trời ơi! Lại không ai khác mà

Trả lời:

  • Câu hỏi đặt ra là: "Có đúng là sự tan nát hạnh phúc của Vũ Nương đã bắt đầu từ cái bóng của chính Vũ Nương không?"
  • Sự tan nát hạnh phúc của Vũ Nương bắt đầu từ cái bóng của chính nàng, khi nàng dùng hình ảnh của người cha (chồng mình) để trò chuyện với con.
  • Điều này cho thấy sự "đồng nhất" của Vũ Nương với chồng, một cách thể hiện tình yêu sâu sắc và hy vọng giữ gìn hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên, chính điều này lại trở thành nguyên nhân dẫn đến bi kịch tan nát của nàng.

**4. (1) Thiên cổ kì bút: ngòi bút kì lạ của muôn đời.

(2) Sơn cùng thủy tận: thành ngữ Hán Việt chỉ nơi tận cùng; ở đây ý nói Nguyễn Du đã viết về chữ "đồng" trong tình yêu rất sâu sắc, hết mức, không còn gì để nói nữa.**


Trang 111 — Chuyện người con gái Nam Xương

Câu hỏi:

Người viết so sánh Chuyện người con gái Nam Xương với Truyện Kiều để làm rõ điều gì?

Trả lời: Người viết so sánh Chuyện người con gái Nam Xương với Truyện Kiều để làm rõ nguyên nhân đau khổ của người phụ nữ. Trong Chuyện người con gái Nam Xương, Vũ Nương chịu đau khổ do những nguyên nhân xã hội cụ thể, trong khi Truyện Kiều nói về nỗi đau của Kiều do cả những kẻ xấu xa cấu kết hãm hại, gây nên bi kịch. Qua sự so sánh này, tác giả nhấn mạnh sự khác biệt về bối cảnh và nguyên nhân dẫn đến bi kịch của hai nhân vật.

Câu hỏi:

Người viết đã bác bỏ những ý kiến nào trong phần này?

Trả lời: Người viết đã bác bỏ ý kiến cho rằng nguyên nhân quan trọng và trực tiếp làm tan nát đời Vũ Nương là do "tính đa nghi" của Trương Sinh hoặc do che giấu việc làm của nàng. Người viết khẳng định: "Cái bóng của nàng, lời nói hồn nhiên, vô tư của đứa con, là cái “tính hay ghen” của anh chồng Trương Sinh. Mà cái tính hay ghen là gì vậy? Là một hiện tượng tâm lí có liên quan đến sinh lí, đến giới tính thuộc phạm vi tính người mà tạo hóa đã phát riển cho nhân loại."

Câu hỏi:

Chú ý cách nêu lí lẽ của người viết.

Trả lời: Người viết sử dụng cách lập luận chặt chẽ, logic và dựa trên phân tích sâu sắc các vấn đề xã hội, tâm lý con người. Một số điểm nổi bật trong cách nêu lí lẽ:

  1. Phân tích nguyên nhân sâu xa: Người viết nhấn mạnh rằng ghen tuông là một yếu tố tâm lý tự nhiên của con người, đặc biệt liên quan đến sinh lý và giới tính.
  2. Bác bỏ các quan điểm sai lệch: Tác giả bác bỏ quan điểm cho rằng ghen tuông là biểu hiện của sự "đàn áp" hay "bất bình đẳng giới".
  3. Đưa ra các dẫn chứng văn học: Sử dụng câu nói trong Truyện Kiều: "Ghen đương thì cũng người ta thương tình" để làm rõ rằng ghen tuông, dù là một cảm xúc tiêu cực, cũng là một phần trong tâm lý con người.

Cách lập luận này giúp người đọc hiểu rõ hơn về vấn đề và tăng tính thuyết phục.


Trang 112 — Chuyện người con gái Nam Xương

Câu hỏi:

(3) Rõ ràng Câu chuyện Chuyện người con gái Nam Xương đã cho người đọc thấy thế nào là cái mong manh của hạnh phúc dẫu bao nhiêu lời muốn thưa. Cho nên, những chàng trai, cô gái đang yêu nhau, những cặp vợ chồng dù đã hến non thề biển, đã kết tóc xe tơ với nhau trên cõi thế gian này vẫn cứ phải coi chừng, phải cảnh giác. Coi chừng, cảnh giác về nhiều thứ nhưng xin đừng quên coi chừng, cảnh giác với cái màu ghen. Hãy nhớ rằng, chỉ nhờ ra một chút thôi, vì như ở đây là nghe con mà không hỏi lại vợ xem sao, thì đã đủ tan nát cả cuộc đời, đã đủ để hạnh phúc trong chốc lác trở thành mây khói, muốn cứu vãn cũng chẳng cứu vãn được nữa. Nguyễn Dữ từ sự cảm nhận, phát hiện được cái quy luật khắc nghiệt ma quái đó trong cuộc sống của người phụ nữ mà sáng tạo nên một cốt truyện bao gồm một hệ thống chi tiết, trong đó có chi tiết chủ công âm ắp lương từ tưởng nghệ thuật thông qua một bút pháp vừa thực vừa ảo,

Trả lời: Câu hỏi trên yêu cầu phân tích ý nghĩa của việc nhắc đến "cái mong manh của hạnh phúc" trong đoạn trích.

Đoạn văn trên đã cho người đọc thấy rõ cái mong manh của hạnh phúc trong cuộc sống vợ chồng. Hạnh phúc có thể bị phá vỡ bởi những nguyên nhân rất nhỏ, đặc biệt là sự ghen tuông vô cớ. "Cái màu ghen" được nhắc đến như một nguy cơ tiềm ẩn, sẵn sàng phá hủy hạnh phúc khi con người không tỉnh táo và thấu hiểu lẫn nhau.

Tác giả Nguyễn Dữ đã sử dụng bút pháp vừa thực vừa ảo để khắc họa một cốt truyện xoay quanh bi kịch gia đình và xã hội. Việc "nghe con mà không hỏi lại vợ xem sao" là một chi tiết nhỏ nhưng đã dẫn đến bi kịch tan nát cả cuộc đời. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thấu hiểu, tin tưởng và tránh xa những cảm xúc tiêu cực như ghen tuông.

Nguyễn Dữ đã sáng tạo nên một hệ thống chi tiết nhằm làm nổi bật quy luật khắc nghiệt của cuộc sống, nơi hạnh phúc mong manh dễ vỡ. Đây là lời cảnh tỉnh cho mọi lứa đôi: cần cảnh giác với những nguy cơ phá vỡ hạnh phúc và luôn biết cách trân trọng, giữ gìn tình cảm vợ chồng.