Trang 17 — Vui chơi với văn chương
Câu hỏi:
- Hôm đã vạch trần quy kế nào của gã đàn ông?
- Hôm đã tiếp tục chỉ ra những thủ đoạn nào của Uyn-đi-banh?
Trả lời:
- Hôm đã vạch trần quy kế nào của gã đàn ông?
Trả lời: Hôm đã vạch trần quy kế của gã đàn ông: Cha dượng thông minh của cô sẽ tiếp tục hành động như thế nào? Đáng khen thay cho cái đầu của hăn! Hắn kịp thời nghĩ ra một quý kế. Lợi dụng sự đông loã của vợ cùng tình trạng cận thị nặng của cô gái, hăn cái trang thành một người đàn ông khác, luôn phải đeo kính màu để che đây cặp mắt vốn thâm quèn, deo râu tóc giả, biến giọng nói thông thường thành một giọng nói thì thầm khó nghe. Trước cặp mắt cận của con gái mình, cha dượng cô nghiệm nhiên trở thành một anh chàng Hót-mô En-gio để gắt ra ngoài lè tất cả những đối thủ lăm le tán tình Me-ri đáng thương."
- Hôm đã tiếp tục chỉ ra những thủ đoạn nào của Uyn-đi-banh?
Trả lời: Hôm đã tiếp tục chỉ ra những thủ đoạn của Uyn-đi-banh:
- Dù sao thì chính cô gái trẻ đã tự dẫn thân vào ngang trái. Mà làm sao cô ấy có thể ngờ Hót-mô chính là cha dượng mình, trong khi tin chắc là ông Uyn-di-banh đi công cán tận nước Pháp xa xôi. Cô đã bị lòa mắt trước sự chăm sóc của người đàn ông đầu đời, hơn nữa lại càng tin tưởng khi mẹ mình cũng đánh giá cao người bạn trai ấy. Rồi anh chàng En-gio bắt đầu lại vâng đến nhà. Hắn dây là hậu quả của trò dùa đã đi quá xa so với dự tính bạn đầu. Đôi nam nữ ấy hẹn hò, cùng đi dạo và đã dính hồn với nhau. Vậy thì trò lừa bịp ấy không thế kéo dài được mãi. Những chuyến giả vờ đi công cán ở nước ngoài quá là phiền toái. Câu hỏi hóc búa là làm thế nào để kết thúc câu chuyện tình cảm này như một bi kịch đột ngột, nhưng phải khắc sâu trong đầu cô gái rằng mình là gái đã dính hôn nên đừng nhìn ngó ai khác nữa. Bởi thế mới có màn kịch chàng Hót-mô yêu cầu cô Me-ri đặt tay lên Thánh Kinh mà thề rằng sẽ chung thủy như nhất, dù có biến cố gì xảy ra chia li hai trái tim. Ông Giêm Uyn-di-banh muốn cô So-tho-len bị trói buộc bởi hôn ước với Hót-mô En-gio và tin rằng vị hôn phu của cô có một số kiếp đầy bất trắc. Mục đích xa hơn của ông là giữ chân cô Me-ri ở nhà ít nhất mười năm nữa. Ông đưa mẹ con Me-ri đến tận công nhà thờ rồi giụ tán tà cụ rích, lăn qua của kia của xe ngựa và biến mất. Toàn bộ sự việc là thế đó. Còn gì để nói thêm không, ông Uyn-di-banh?
Trong khi Hôm mải kể chuyện, vị khách nợ đã lấy lại được chút tự tin. Ông ta đứng dậy với bộ mặt vẫn còn xanh xao, ngọan ngoặt cằn lời:
Có thể thế, mà cũng có thể không, ông Hôm ạ. Nếu ông thông minh đến vậy, thì phải hiểu người đang phạm pháp là ông chứ không phải tôi. Pháp luật không sờ được đến tôi đâu. Nhưng nếu ông không mở ngay cửa ra, tôi sẽ kiện ông về tội tán công và giam giữ trái phép công dân đấy.
Phải, luật pháp thì không thể động tới ông được. - Hôm vừa nói vừa mở toang cửa. - Nhưng không có kẻ nào đáng bị trừng phạt hơn ông đâu. Nếu Me-ri mà có một người anh trai hoặc có bạn trai, thì ông đã tan xương nát thịt rồi. [...]
Trang 18 — Thực hành tiếng Việt
Câu 1. Thử chuyển mỗi thành phần câu hoặc thành phần của cụm từ được in đậm dưới đây sang vị trí khác; qua đó, giải thích vì sao các tác giả lại chọn vị trí của chúng như ở những câu đã cho.
Trả lời:
a) Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. (Hồ Chí Minh)
Thành phần được in đậm: Từ đó (xuất hiện hai lần).
Chuyển đổi vị trí:
Ban đầu:
Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn.Chuyển đổi:
Dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó, dân ta càng cực khổ, nghèo nàn.
Giải thích:
- Tác giả chọn vị trí "Từ đó" ở đầu câu để nhấn mạnh thời điểm dân ta rơi vào tình cảnh khổ cực, nghèo nàn sau khi bị hai tầng xiềng xích áp bức. Nếu đặt "Từ đó" ở cuối câu, ý nhấn mạnh về thời điểm sẽ không được nổi bật.
Vị trí của "Từ đó" giúp câu văn mạch lạc, dễ hiểu và tăng tính logic khi diễn đạt diễn biến trước – sau.
Trang 19 — Hướng dẫn thực hiện các bài tập
Câu 1. Tìm và ghi lại các câu có sử dụng phép hoán dụ trong các đoạn văn sau và giải thích ý nghĩa của việc sử dụng phép hoán dụ đó:
a) Vì đường xa, chúng tôi chỉ ở nhà được có ba ngày. Trong ba ngày ngắn ngủi đó, con bé không kịp nhận ra anh là cha. (Nguyễn Quang Sáng)
Trả lời:
- Câu có sử dụng phép hoán dụ: "Trong ba ngày ngắn ngủi đó, con bé không kịp nhận ra anh là cha."
- Phép hoán dụ: "ba ngày ngắn ngủi" thay cho "khoảng thời gian ngắn ngủi".
- Ý nghĩa: Nhấn mạnh sự ngắn ngủi của khoảng thời gian, làm nổi bật sự bất ngờ và vội vàng của tình huống.
b) Giữa mặt viền mêng mông xanh ngắt và tím tít nhô lên những tảng đá với hình thù kì dị và dường như được bút sơn của một họa sĩ quét lên vô số màu sắc, từ màu xanh ngọc bích đến màu đỏ nâu và vàng. (Thí Sành)
Trả lời:
- Câu có sử dụng phép hoán dụ: "bút sơn của một họa sĩ quét lên vô số màu sắc".
- Phép hoán dụ: "bút sơn" thay cho "công cụ vẽ".
- Ý nghĩa: Tạo hình ảnh sinh động, gợi lên sự sáng tạo của nghệ thuật.
c) Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
(Bà Huyện Thanh Quan)
Trả lời:
- Câu có sử dụng phép hoán dụ: "Lom khom dưới núi, tiều vài chú", "Lác đác bên sông, chợ mấy nhà".
- Phép hoán dụ: "tiều" thay cho "những người cắt củi, "chợ" thay cho "cái chợ".
- Ý nghĩa: Gợi lên hình ảnh một làng quê yên bình, vắng vẻ.
Câu 2. Tìm câu bị động trong những đoạn văn dưới đây. Cho biết việc sử dụng những câu bị động đó phù hợp như thế nào đối với văn cảnh và mục đích diễn đạt.
a) Sau nghỉ lễ bái tố, hai đô thực hiện nghi thức xe dài được thực hiện rất đa dạng. (Phí Trường Giang)
Trả lời:
- Câu bị động: "nghi thức xe dài được thực hiện rất đa dạng".
- Phù hợp: Tập trung vào hành động "được thực hiện" và làm nổi bật sự đa dạng của các động tác xe dài.
b) Địa đạo Củ Chi hình thành trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp (khoảng năm 1948). Hệ thống địa đạo được xây dựng sớm nhất tại hai xã Tân Phú Trung và Phước Vĩnh An [...]. Lúc đầu, địa đạo chỉ có những đoạn ngắn, cấu trúc đơn giản, dùng để giấu tài liệu, trú ẩn cán bộ trong vùng địch hậu. Sáng giai đoạn kháng chiến chống đế quốc Mĩ, địa đạo được gia cố và mở rộng. (Di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi)
Trả lời:
- Câu bị động:
- "Hệ thống địa đạo được xây dựng sớm nhất tại hai xã Tân Phú Trung và Phước Vĩnh An".
- "địa đạo được gia cố và mở rộng".
- Phù hợp: Nhấn mạnh vào hành động xây dựng và sự phát triển của địa đạo.
c) Trong hơn một thế kỉ trở lại đây, dân số thế giới ngày càng tăng, trong khi số lượng các loài động vật ngày một giảm đi rõ rệt. Môi trường sống của động vật bị con người chiếm lĩnh, phá hoại [...]. Nhiều loài thậm chí thường xuyên bị con người ngược đãi, săn bắt vô tổ chức và tàn sát không nương tay. (Theo Kim Hạnh Bảo – Trần Nghị Du)
Trả lời:
- Câu bị động:
- "Môi trường sống của động vật bị con người chiếm lĩnh, phá hoại".
- "Nhiều loài thậm chí thường xuyên bị con người ngược đãi, săn bắt vô tổ chức và tàn sát không nương tay".
- Phù hợp: Làm rõ vai trò của con người trong việc gây hại đến môi trường sống của động vật.
Câu 3. Biến đổi các câu chủ động dưới đây thành câu bị động:
a) Quan Phó bảng Sắc đã dẫn hai con trai đi hầu khắp những nơi nổi tiếng về phong cảnh đẹp, về di tích lịch sử của Nghệ An. (Sơn Tùng)
Trả lời: Hai con trai đã được Quan Phó bảng Sắc dẫn đi hầu khắp những nơi nổi tiếng về phong cảnh đẹp, về di tích lịch sử của Nghệ An.
b) Ba nó bẻ nó lên. (Nguyễn Quang Sáng)
Trả lời: Nó đã được ba nó bẻ lên.
c) Tay nó đốt nhà tao rồi, bác ạ. (Kim Lân)
Trả lời: Nhà tao đã bị tay nó đốt rồi, bác ạ.
d) Cuộc sống càng văn minh tiến bộ, con người càng sử dụng nhiều nước hơn cho mọi nhu cầu của mình… (Theo Trình Văn)
Trả lời: Nhiều nước hơn đã được con người sử dụng cho mọi nhu cầu của mình khi cuộc sống càng văn minh tiến bộ.
Câu 4. Gộp mỗi cặp câu dưới đây thành một câu:
a) Ở đâu, chúng tôi cũng gặp những người mẹ từ tâm. Các mẹ yêu quý chúng tôi như con đẻ.
Trả lời: Ở đâu, chúng tôi cũng gặp những người mẹ từ tâm, và các mẹ yêu quý chúng tôi như con đẻ.
b) Năng suất lao động tăng. Mọi người trong tổ rất phấn khởi.
Trả lời: Năng suất lao động tăng khiến mọi người trong tổ rất phấn khởi.
Trang 19 — Thực hành đọc hiểu: Dế chọi
Câu 1. Chuẩn bị
- Đọc trước truyện Dế chọi; tìm hiểu thêm thông tin về tác giả Bồ Tùng Linh và tập truyện Liễu Trai chí dị.
- Em biết gì về trò chơi chọi dế?
Trả lời:
- Bồ Tùng Linh (1640 - 1715), quê ở Sơn Đông, Trung Quốc.
- Tập truyện "Liễu Trai chí dị" là một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông, chứa đựng nhiều câu chuyện kỳ dị, liêu trai.
- Trò chơi chọi dế là một loại hình giải trí phổ biến ở Trung Quốc, trong đó hai con dế được cho đấu với nhau, con nào thắng sẽ được chủ nhân chăm sóc, nuôi dưỡng.
Câu 2. Đọc hiểu
- Thời Tuyên Đức, trong cung rất chuộng trò chơi chọi dế, hàng năm bắt dân gian cung tiến(1) trò đó không phải này sinh từ đất Thiêm Tây mà do viên quan lệnh huyện Hoa Âm muốn lấy lòng quan trên, đem tiến một con dế chọi. Quan tỉnh thấy nó chọi hay quá, đòi phải cung tiến thường xuyên. Quan huyện cũng lại đòi lí trưởng phải cung cấp. Ngoài chợ, bọn tây chọi tìm mua được con nào tốt, đem nhốt lồng nuôi, nâng giá lên thành hàng quý lạ. Còn bọn lí dịch giáo hoạt lấy lệ cung tiến để, sách nhiều dân chúng. Mỗi lần phải nộp một con dế đủ làm khuynh gia bại sản mấy nhà.
Trả lời:
Trò chơi chọi dế được ưa chuộng ở đâu, nảy sinh như thế nào?
- Trò chơi chọi dế được ưa chuộng trong cung vào thời Tuyên Đức.
- Nơi nảy sinh: đất Thiêm Tây.
- Nguyên nhân: Do viên quan lệnh huyện Hoa Âm muốn lấy lòng quan trên mà đem tiến một con dế chọi.
Hậu quả của trò chơi chọi dế:
- Quan tỉnh, quan huyện, lí trưởng đua nhau đòi cung tiến.
- Bọn lí dịch lợi dụng để sách nhiễu, bóc lột dân chúng.
- Mỗi lần phải nộp một con dế có thể làm khuynh gia bại sản mấy nhà.
Trang 20 — Thực hành đọc hiểu: Dế chọi
(còn tiếp theo)
Câu hỏi/Yêu cầu trong trang (ko rõ):