Trang 15 — Thực hành tiếng Việt
Câu 1.
Trong các câu trích từ văn bản Ba chàng sinh viên đi học, dưới đây, câu nào là câu ghép đẳng lập, câu nào là câu ghép chính phụ?
a. Cậu người Ấn vẫn đi tới lui trong phòng, nhưng chúng tôi không thấy bóng dáng hai người kia đâu.
b. Chuyện xấu đã chẩng xảy ra nếu khi đi qua cửa phòng thấy, cậu ta không thấy cái chìa khóa người hầu sưởi để quên.
c. Nếu thấy Xóm thấy chứng, tất cả sẽ hỗn bét.
d. Cậu đã vấp ngã một lần và tôi mong cậu cố thể vươn cao trong tương lai.
Trả lời:
- Câu ghép đẳng lập: là câu ghép các thành phần có quan hệ bình đẳng về ngữ pháp và ý nghĩa.
- Câu ghép chính phụ: là câu ghép trong đó một thành phần chính và một hoặc nhiều thành phần phụ.
Phân tích từng câu:
a. Cậu người Ấn vẫn đi tới lui trong phòng, nhưng chúng tôi không thấy bóng dáng hai người kia đâu.
- Câu này gồm hai mệnh đề:
- Cậu người Ấn vẫn đi tới lui trong phòng
- chúng tôi không thấy bóng dáng hai người kia đâu
- Hai mệnh đề được nối bằng nhưng (từ nối biểu thị quan hệ tương phản).
- Đây là câu ghép chính phụ vì mệnh đề thứ hai phụ thuộc vào mệnh đề đầu.
b. Chuyện xấu đã chẩng xảy ra nếu khi đi qua cửa phòng thấy, cậu ta không thấy cái chìa khóa người hầu sưởi để quên.
- Câu này gồm hai mệnh đề:
- Chuyện xấu đã chẩng xảy ra
- nếu khi đi qua cửa phòng thấy, cậu ta không thấy cái chìa khóa người hầu sưởi để quên (điều kiện).
- Đây là câu ghép chính phụ vì mệnh đề thứ hai là điều kiện cho mệnh đề đầu.
c. Nếu thấy Xóm thấy chứng, tất cả sẽ hỗn bét.
- Câu này gồm hai mệnh đề:
- Nếu thấy Xóm thấy chứng (điều kiện)
- tất cả sẽ hỗn bét (kết quả).
- Đây là câu ghép chính phụ vì mệnh đề đầu là điều kiện cho mệnh đề sau.
d. Cậu đã vấp ngã một lần và tôi mong cậu cố thể vươn cao trong tương lai.
- Câu này gồm hai mệnh đề:
- Cậu đã vấp ngã một lần
- tôi mong cậu cố thể vươn cao trong tương lai.
- Hai mệnh đề được nối bằng và (từ nối biểu thị quan hệ đồng liệt).
- Đây là câu ghép đẳng lập vì hai mệnh đề có quan hệ bình đẳng.
Kết luận:
- Câu ghép đẳng lập: d. Cậu đã vấp ngã một lần và tôi mong cậu cố thể vươn cao trong tương lai.
- Câu ghép chính phụ:
- a. Cậu người Ấn vẫn đi tới lui trong phòng, nhưng chúng tôi không thấy bóng dáng hai người kia đâu.
- b. Chuyện xấu đã chẩng xảy ra nếu khi đi qua cửa phòng thấy, cậu ta không thấy cái chìa khóa người hầu sưởi để quên.
- c. Nếu thấy Xóm thấy chứng, tất cả sẽ hỗn bét.
Câu 2.
Xác định quan hệ nghĩa giữa các vế ở những câu ghép dưới đây và cho biết trong mỗi câu ghép, các vế câu được nối với nhau bằng cách nào.
a. Vì chuyện này phải được giữ kín nên chúng ta sẽ tự lập ra một toà án nhỏ vây. (Cô-nan Doi-lo, Ba chàng sinh viên đi học)
b. Đất bám quanh một định giày vương lên bàn và mấu đất thứ hai rã ra, rơi xuống sàn phòng ngủ. (Cô-nan Doi-lo, Ba chàng sinh viên đi học)
c. Để người con gái khỏi trờ lại bàn, anh lấy chiếc khăn tay còn vo tròn cắp giữa cuốn sách tôi trả cho cô gái. (Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa)
d. Khó khăn càng lớn, quyết tâm càng cao.
Trả lời:
a. Vì chuyện này phải được giữ kín nên chúng ta sẽ tự lập ra một toà án nhỏ vậy.
- Quan hệ: nguyên nhân - kết quả.
- Các vế được nối bằng: Vì … nên ….
b. Đất bám quanh một định giày vương lên bàn và mấu đất thứ hai rã ra, rơi xuống sàn phòng ngủ.
- Quan hệ: đồng liệt.
- Các vế được nối bằng: và.
c. Để người con gái khỏi trờ lại bàn, anh lấy chiếc khăn tay còn vo tròn cắp giữa cuốn sách tôi trả cho cô gái.
- Quan hệ: mục đích.
- Các vế được nối bằng: để.
d. Khó khăn càng lớn, quyết tâm càng cao.
- Quan hệ: tương phản.
- Các vế được nối bằng: dấu phẩy (ngầm hiểu là thì hoặc cấu trúc song song).
Kết luận:
- a. Vì … nên … (Nguyên nhân - Kết quả)
- b. và (Đồng liệt)
- c. để (Mục đích)
- d. Dấu phẩy (Tương phản)
Câu 3.
Ở từng câu ghép có hai vế dưới đây, trọng tâm của thông báo nằm ở vế nào? Dựa vào đâu mà em xác định như vậy?
a. Thu nhập tốt nhưng chỗ làm hơi xa.
- Chỗ làm hơi xa nhưng thu nhập tốt.
b. Chỗ làm hơi xa nhưng thu nhập tốt.
Trả lời: a. Thu nhập tốt nhưng chỗ làm hơi xa.
- Trọng tâm: chỗ làm hơi xa.
- Vì phần sau câu thường là trọng tâm trong câu ghép.
b. Chỗ làm hơi xa nhưng thu nhập tốt.
- Trọng tâm: thu nhập tốt.
- Vì phần sau câu thường là trọng tâm trong câu ghép.
Kết luận:
- a. Trọng tâm: chỗ làm hơi xa.
- b. Trọng tâm: thu nhập tốt.
Trang 18 — Bài hát đồng sáu xu
Câu 4. Trong các câu ghép sau, câu nào dùng sai phương tiện nối giữa các vế câu? Hãy sửa lại cho đúng.
a. Hà không những học tốt, Hà lại hát hay và có khả năng biểu diễn xuất sắc trên sân khấu.
b. Tôi chưa nói Câu nào mà nó đã khóc nước ứa.
c. Chúng ta càng đọc sách nhiều, kiến thức sẽ được mở rộng.
d. Mặc dù trời mưa rất to còn chị ấy vẫn đến đúng giờ.
Trả lời:
Để xác định câu dùng sai phương tiện nối giữa các vế câu, ta cần phân tích từng câu:
a. Hà không những học tốt, Hà lại hát hay và có khả năng biểu diễn xuất sắc trên sân khấu.
- Câu này dùng "không những" ở vế đầu nhưng vế thứ hai không dùng "mà còn" để nối, dẫn đến lỗi sai về phương tiện nối.
b. Tôi chưa nói Câu nào mà nó đã khóc nước ứa.
- Câu này dùng đúng phương tiện nối: "chưa... mà đã".
c. Chúng ta càng đọc sách nhiều, kiến thức sẽ được mở rộng.
- Câu này thiếu phương tiện nối phù hợp. Câu đúng nên là: "Chúng ta càng đọc sách nhiều, thì kiến thức sẽ được mở rộng."
d. Mặc dù trời mưa rất to còn chị ấy vẫn đến đúng giờ.
- Câu này dùng sai phương tiện nối. Câu đúng nên là: "Mặc dù trời mưa rất to nhưng chị ấy vẫn đến đúng giờ."
Sửa lại các câu sai:
- Câu a: Hà không những học tốt mà còn hát hay và có khả năng biểu diễn xuất sắc trên sân khấu.
- Câu c: Càng đọc sách nhiều, kiến thức của chúng ta sẽ được mở rộng. Hoặc: Chúng ta càng đọc sách nhiều thì kiến thức sẽ được mở rộng.
- Câu d: Mặc dù trời mưa rất to nhưng chị ấy vẫn đến đúng giờ.
Vậy, các câu dùng sai phương tiện nối là a, c, d.
Trang 19 — Đầm Xa
Câu hỏi:
Những thông tin nào cho thấy Méc-đơ-lân, Mét-thiu, thím Ê-mi-ly, chủ Uy-li-am đều có thể là nghi phạm?
Trả lời:
Các thông tin cho thấy Méc-đơ-lân, Mét-thiu, thím Ê-mi-ly, chủ Uy-li-am đều có thể là nghi phạm:
- Méc-đơ-lân: "Bà giúp việc Ma-thơ là người cuối cùng nhìn thấy bà Li-ly. Chiều hôm đó, bà Ma-thơ làm sổ sách và mang đến cho bà Li-ly tiền thừa cùng bản báo cáo. Méc-đơ-lân giải thích việc thím Ê-mi-ly chống thím hãy cuồn cuộn ra khỏi nhà."
- Mét-thiu: "Mét-thiu đang nợ rất nhiều tiền, nhưng giờ đã đỡ do có số tiền thừa kế từ bà Li-ly."
- Thím Ê-mi-ly: "Thím Ê-mi-ly trả lời luật sư với vẻ ngọan cố và sợ hãi rằng bà chẳng biết gì vì bà đang ngủ."
- Chủ Uy-li-am: Không có thông tin trực tiếp trong đoạn văn, nhưng với việc liệt kê các nhân vật có thể là nghi phạm, có thể chủ Uy-li-am có liên quan.
Như vậy, mỗi nhân vật đều có động cơ hoặc tình huống khả nghi để trở thành nghi phạm.
Trang 20 — Không rõ tên bài/chương/tác phẩm
Theo dõi
Tại sao bà Ma-thơ khẳng định không ai trong gia đình liên quan đến vụ việc?
Trả lời: Bà Ma-thơ khẳng định không ai trong gia đình liên quan đến vụ việc vì bà cho rằng những người trong gia đình đã có lời giải thích rõ ràng và không có hành động đáng ngờ. Bà nói: "Cái cầu thang đấy, thưa ngài. Mỗi khi có người lên xuống cầu thang, nó kêu cọt kẹt ghê lắm. Dù cho người ta đi nhẹ nhàng cỡ nào đi nữa. Bà Cráp-tri, bà ấy ngủ trên giường, còn ông Cráp-tri thì đang nghịch mấy con tem chết tiệt của ông ấy, cô Méc-đo-lan ở trên lầu đang may váy, và nếu có ai trong số ba người họ xuống cầu thang thì tôi đã biết rồi. Nhưng họ đâu có đi xuống!"
Bà Ma-thơ cũng nhấn mạnh rằng tiếng động mà ông Ét-uốt nghe được không phải từ cầu thang, vì nếu có ai đi xuống cầu thang, bà đã biết và nghe rõ tiếng động đó. Điều này cho thấy bà Ma-thơ đã loại trừ khả năng những người trong gia đình liên quan đến vụ việc dựa trên sự hiểu biết về thói quen và hoạt động của họ.
Câu hỏi tiếp theo không có trong trang.