Trang 30 — Thực hành tiếng Việt
Câu 1. Xác định quan hệ ý nghĩa giữa các vế trong những câu ghép dưới đây. Có thể tách mỗi vế của câu ghép thành một câu đơn được không? Vì sao?
Trả lời:
Câu a:
- Quan hệ ý nghĩa giữa các vế: Câu ghép này có các vế thể hiện sự tương đồng, liệt kê những tai họa mà "chẳng những" những người bị thiệt hại trực tiếp phải gánh chịu mà cả những người khác cũng chịu ảnh hưởng.
- Các vế:
- Chẳng những thái ấp của ta không còn, mà bọn lộ tặc các ngươi cũng mất;
- chẳng những gia quyền của ta bị tan, mà vợ con các ngươi cũng khổ;
- chẳng những xã tắc tổ tông ta bị giày xéo, mà phân mộ cha mẹ các ngươi cũng bị quật lên;
- chẳng những thánh tích này chịu nhục, rồi đến trăm năm sau, tiếng đọ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà đến già thanh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là tượng bại trận.
- Không thể tách mỗi vế thành một câu đơn vì các vế có mối liên hệ chặt chẽ với nhau về ý nghĩa, tạo nên một sự liệt kê liên hoàn.
Câu b:
- Nếu con chưa đi, cụ Nghị chưa giao tiền cho, chưa có tiền nộp sưu thì không khéo thấy con sẽ chết ở đinh, chứ không sống được.
- Quan hệ ý nghĩa: Câu này thể hiện quan hệ điều kiện - kết quả. Nếu chưa đi, chưa giao tiền, chưa có tiền nộp sưu thì kết quả là con sẽ chết.
- Các vế:
- Nếu con chưa đi, cụ Nghị chưa giao tiền cho, chưa có tiền nộp sưu
- thì không khéo thấy con sẽ chết ở đinh, chứ không sống được.
- Không thể tách các vế thành câu đơn vì điều kiện và kết quả là một chỉnh thể không thể tách rời.
Câu 2. Mục đích của việc lựa chọn câu đơn và câu ghép
Trả lời:
- Mục đích của việc lựa chọn câu đơn và câu ghép là do cấu trúc khác nhau nên câu đơn và câu ghép có sự khác biệt trong việc biểu đạt nghĩa, nhằm đến những mục đích giao tiếp khác nhau.
- Ví dụ:
- Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. (Hồ Chí Minh, Tuyên ngôn Độc lập)
- Câu văn trên là một câu ghép đẳng lập có ba vế, liệt kê ba sự kiện. Để biểu đạt ý liệt kê này, chúng ta có thể dùng ba câu đơn:
- Pháp chạy.
- Nhật hàng.
- Vua Bảo Đại thoái vị.
- Tuy nhiên, việc thể hiện ba sự kiện bằng ba câu đơn riêng biệt như vậy sẽ không biểu đạt được hiệu quả ý nhấn mạnh sự nối tiếp và mối quan hệ chặt chẽ giữa ba sự kiện.
Trang 31 —
Câu 2. Hãy chuyển đổi các câu đơn trong mỗi trường hợp sau thành câu ghép và nhận xét sự khác biệt về ý nghĩa giữa các câu đơn ban đầu và câu ghép có được sau khi chuyển đổi.
a. Có một sự thật là trong 10 năm tôi là phóng viên cho tòa soạn tuần báo “Time” và trước đó làm cho hãng Roi-to. Một sự thật khác nữa là tôi gia nhập phong trào cách mạng từ năm 1944 và là thành viên của hội từ đó với các chức vụ khác nhau.
Trả lời:
Câu đơn ban đầu:
- Có một sự thật là trong 10 năm tôi là phóng viên cho tòa soạn tuần báo “Time” và trước đó làm cho hãng Roi-to.
- Một sự thật khác nữa là tôi gia nhập phong trào cách mạng từ năm 1944 và là thành viên của hội từ đó với các chức vụ khác nhau.
Chuyển đổi thành câu ghép:
- Có một sự thật là trong 10 năm tôi là phóng viên cho tòa soạn tuần báo “Time” và trước đó làm cho hãng Roi-to; đồng thời, tôi cũng gia nhập phong trào cách mạng từ năm 1944 và là thành viên của hội từ đó với các chức vụ khác nhau.
Nhận xét:
- Câu đơn ban đầu tách biệt rõ ràng hai sự thật, nhấn mạnh từng sự thật riêng lẻ.
- Câu ghép nối hai sự thật lại, tạo sự liên kết và nhấn mạnh cả hai sự thật cùng tồn tại.
b. Rõ ràng Phạm Xuân Ẩn có cuộc đời của nhân vật tiêu thuyết. Nhưng các nhà báo Việt Nam cũng như nhà báo nước ngoài mới chỉ có được “vài chớp đèn flash” nắm bắt những nét thoáng qua nào đó của cuộc đời ông theo một số sự kiện lịch sử lớn lao.
Trả lời:
Câu đơn ban đầu:
- Rõ ràng Phạm Xuân Ẩn có cuộc đời của nhân vật tiêu thuyết.
- Nhưng các nhà báo Việt Nam cũng như nhà báo nước ngoài mới chỉ có được “vài chớp đèn flash” nắm bắt những nét thoáng qua nào đó của cuộc đời ông theo một số sự kiện lịch sử lớn lao.
Chuyển đổi thành câu ghép:
- Rõ ràng Phạm Xuân Ẩn có cuộc đời của nhân vật tiêu thuyết, nhưng các nhà báo Việt Nam cũng như nhà báo nước ngoài mới chỉ có được “vài chớp đèn flash” nắm bắt những nét thoáng qua nào đó của cuộc đời ông theo một số sự kiện lịch sử lớn lao.
Nhận xét:
- Câu đơn ban đầu mang tính đối lập mạnh giữa hai ý.
- Câu ghép làm mềm tính đối lập và kết nối giữa hai ý.
c. Tôi không thể đủ điều kiện viết về ông theo cách chuẩn xác của những điệp vụ. Càng không muốn liệt kê theo các bản khai lí lịch đơn thuần.
Trả lời:
Câu đơn ban đầu:
- Tôi không thể đủ điều kiện viết về ông theo cách chuẩn xác của những điệp vụ.
- Càng không muốn liệt kê theo các bản khai lí lịch đơn thuần.
Chuyển đổi thành câu ghép:
- Tôi không thể đủ điều kiện viết về ông theo cách chuẩn xác của những điệp vụ, càng không muốn liệt kê theo các bản khai lí lịch đơn thuần.
Nhận xét:
- Câu đơn ban đầu đưa ra hai ý nhấn mạnh riêng.
- Câu ghép nối hai ý lại, nhấn mạnh sự từ chối viết theo cách đơn thuần.
Câu 3. Các đoạn trích sau vừa có câu đơn vừa có câu ghép. Hãy chỉ ra sự phù hợp giữa kiểu cấu trúc câu và ý nghĩa cần biểu đạt của mỗi câu.
a. Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!
Trả lời:
Câu đơn: "Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng."
- Phù hợp để diễn đạt mong muốn và điều kiện cần thiết để có hòa bình.
Câu ghép:
- "Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!"
- Phù hợp để diễn đạt mối quan hệ nhân quả giữa việc nhân nhượng và hành động của thực dân Pháp, nhấn mạnh sự nguy hiểm.
b. Vì sao sau khi đất nước giải phóng, cả nước và thế giới biết rõ ông là tình báo, vậy mà người Mỹ trong giới báo chí hoạt động cùng thời với ông nay trở lại Việt Nam vẫn đem lòng tin tưởng và kính trọng ông? Đó là một nhân cách, một tài năng. Đôi ông là một câu trả lời lớn cho nhiều câu hỏi vẫn làm đau đầu nhiều người bạn Mỹ của ông.
Trả lời:
Câu đơn:
- "Đó là một nhân cách, một tài năng."
- Phù hợp để tóm tắt ngắn gọn lý do ông được kính trọng.
Câu ghép:
- "Vì sao sau khi đất nước giải phóng, cả nước và thế giới biết rõ ông là tình báo, vậy mà người Mỹ trong giới báo chí hoạt động cùng thời với ông nay trở lại Việt Nam vẫn đem lòng tin tưởng và kính trọng ông?"
- "Đôi ông là một câu trả lời lớn cho nhiều câu hỏi vẫn làm đau đầu nhiều người bạn Mỹ của ông."
- Phù hợp để diễn đạt sự thắc mắc và đưa ra lời giải.
Câu 4. Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) trình bày cảm nghĩ của em về nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn sau khi đọc văn bản Phạm Xuân Ẩn – tên người như cuộc đời, trong đoạn văn có ít nhất một câu ghép.
Trả lời: Nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn là một con người đặc biệt với cuộc đời đầy ẩn số. Ông không chỉ là một phóng viên chiến tranh tài năng mà còn là một điệp sĩ tình báo xuất sắc. Mặc dù cuộc đời ông gắn liền với những bí mật và nhiệm vụ điệp vụ, nhưng ông vẫn nhận được sự kính trọng từ cả trong và ngoài nước. Nhiều nhà báo và người bạn Mỹ vẫn tin tưởng và tôn trọng ông sau khi đất nước giải phóng. Điều này cho thấy sự nghiệp và nhân cách của ông thật sự xuất sắc. Tóm lại, Phạm Xuân Ẩn là một nhân vật truyền cảm hứng với lòng yêu nước và tài năng vượt trội; đồng thời, ông để lại nhiều bài học sâu sắc về lòng trung thành và sự cống hiến.
Trang 32 — Viết
Câu hỏi:
- Viết truyện ngắn sáng tạo (truyện có yếu tố trinh thám)
Yêu cầu:
- Giới thiệu được bối cảnh (thời gian, không gian), nhân vật và câu chuyện.
- Sắp xếp chuỗi sự kiện theo trật tự lô gic.
- Xây dựng nhân vật với một số yếu tố như lai lịch, ngoại hình, hành động, lời nói, suy nghĩ.
- Trình bày được cách thức đi đến kết luận của nhà điều tra.
- Sử dụng ngôi kể phù hợp (ngôi thứ nhất hoặc thứ ba).
- Sử dụng các yếu tố miêu tả và biểu cảm ở những chỗ cần thiết.
Trả lời:
Cốt truyện trinh thám và yêu cầu của bài viết:
- Cốt truyện trinh thám thường có yếu tố bất ngờ, gây tò mò và hồi hộp.
- Yêu cầu của bài viết là sáng tạo một truyện ngắn có yếu tố trinh thám, dựa trên một truyện tranh trinh thám đã đọc hoặc tự sáng tác.
Các yếu tố cần có trong bài viết:
- Bối cảnh: Thời gian, không gian xảy ra câu chuyện.
- Nhân vật: Chủ yếu là nhân vật chính (nhà điều tra, hung thủ, nạn nhân,...).
- Sự kiện: Diễn biến của câu chuyện, bao gồm các manh mối, tình tiết bất ngờ.
Cách xây dựng nhân vật:
- Lai lịch: Mô tả xuất thân, nhân cách của nhân vật.
- Ngoại hình: Miêu tả hình dáng bên ngoài.
- Hành động: Các hành động quan trọng của nhân vật.
- Lời nói: Đối thoại của nhân vật trong truyện.
- Suy nghĩ: Tâm lý, suy nghĩ nội tâm của nhân vật.
Trình bày cách thức điều tra:
- Dẫn dắt người đọc theo quá trình tìm kiếm manh mối.
- Giải thích cách nhân vật chính đi đến kết luận cuối cùng.
Ngôi kể:
- Có thể dùng ngôi thứ nhất (người trong cuộc) hoặc ngôi thứ ba (người ngoài cuộc).
Yếu tố miêu tả và biểu cảm:
- Miêu tả cảnh vật, tâm trạng nhân vật.
- Biểu cảm giúp người đọc cảm nhận sâu sắc hơn.
Phân tích bài viết tham khảo: Con mèo Đại Úy
Trả lời:
Bối cảnh:
- "Buổi sáng cuối tuần, tiệm cà phê Poa-rô (Poirot) bỗng xuất hiện những vị khách kì lạ khiến cô chủ A-đu-xa (Aduxa) vô cùng bối rối." → Giới thiệu thời gian, không gian và tình huống mở đầu.
Sự kiện:
- Câu chuyện bắt đầu khi một chú mèo lạc xuất hiện ở tiệm cà phê.
Xây dựng nhân vật:
- Chú mèo: thông minh, giúp tìm chiếc ví.
- Chủ tiệm cà phê: bối rối trước tình huống.
Cách thức điều tra:
- Chú mèo giúp tìm ví nhờ vết mổ triệt sản.
Ngôi kể:
- Sử dụng ngôi thứ ba.
Miêu tả và biểu cảm:
- Miêu tả tiệm cà phê, tâm trạng nhân vật.