Trang 43 — Suy ngẫm và phản hồi
Câu 1. Đọc phần tóm tắt tác phẩm Kho tàng họ Đặng và nêu nội dung bao quát của văn bản Ngôi mộ cổ.
Trả lời: Phần tóm tắt tác phẩm Kho tàng họ Đặng:
"Kỳ Phát đã tìm ra nấp hầm kho báu, đưa mọi người lên mặt đất an toàn kèm theo gia tài của ông tổ họ Đặng. Phần châu báu Kỳ Phát được chia, chàng đã tặng cô Cúc (con gái ông Cài) làm của hồi môn, còn chàng tiếp tục sống cuộc đời phiêu lưu."
Nội dung bao quát của văn bản Ngôi mộ cổ: Văn bản Ngôi mộ cổ là một phần của tác phẩm Kho tàng họ Đặng, kể về việc Kỳ Phát khám phá ra hầm kho báu của tổ tiên họ Đặng và những diễn biến tiếp theo.
Câu 2. Chi tiết nào trong văn bản Ngôi mộ cổ có tác dụng giúp Kỳ Phát phán đoán hướng tìm kho báu?
Trả lời: Chi tiết giúp Kỳ Phát phán đoán hướng tìm kho báu là:
"đọc đoạn thuật lại đối thoại giữa Kỳ Phát với ba anh em nhà họ Đặng về bí mật của bốn chiếc đĩa cổ."
Qua đoạn đối thoại này, Kỳ Phát có cơ sở để xác định hướng tìm kiếm kho báu.
Câu 3. Nhân vật Kỳ Phát thể hiện những đặc điểm nào của nhân vật trong truyện trình thám? Lấy dẫn chứng từ văn bản để làm rõ ý kiến của em.
Trả lời: Nhân vật Kỳ Phát thể hiện những đặc điểm của nhân vật trong truyện trình thám:
- Thông minh, suy luận logic:
"Kỳ Phát đã tìm ra nấp hầm kho báu, đưa mọi người lên mặt đất an toàn kèm theo gia tài của ông tổ họ Đặng."
- Dũng cảm, quyết đoán:
"còn chàng tiếp tục sống cuộc đời phiêu lưu."
Câu 4. Đọc đoạn thuật lại đối thoại giữa Kỳ Phát với ba anh em nhà họ Đặng về bí mật của bốn chiếc đĩa cổ và thực hiện các yêu cầu sau:
a. Nêu một số ví dụ về lời của người kể chuyện, lời của nhân vật và cho biết vì sao trong văn bản tác giả cần sử dụng cả lời của người kể chuyện lẫn lời của nhân vật.
Trả lời:
- Lời của người kể chuyện:
"Kỳ Phát đã tìm ra nấp hầm kho báu, đưa mọi người lên mặt đất an toàn kèm theo gia tài của ông tổ họ Đặng."
- Lời của nhân vật:
Đối thoại giữa Kỳ Phát với ba anh em nhà họ Đặng.
Tác giả cần sử dụng cả lời của người kể chuyện lẫn lời của nhân vật để:
- Giúp người đọc hiểu rõ diễn biến câu chuyện.
- Làm sống động tình huống và nhân vật.
b. Việc tham từ Kỳ Phát đọc to bài thơ thất ngôn bát cú có tác dụng gì?
Trả lời: Việc Kỳ Phát đọc to bài thơ thất ngôn bát cú:
- Giúp Kỳ Phát suy luận ra bí mật của bốn chiếc đĩa cổ.
- Làm rõ quá trình tìm kiếm kho báu của Kỳ Phát.
Câu 5. Xác định ngôi kể trong văn bản. Cho biết việc sử dụng ngôi kể đó có ưu thế gì so với ngôi kể khác (có thể so sánh với cách sử dụng ngôi kể trong văn bản Chiếc mũ miện dát đá be-rơ).
Trả lời: Ngôi kể trong văn bản Ngôi mộ cổ là ngôi kể thứ ba.
Việc sử dụng ngôi kể thứ ba:
- Cho phép người kể có thể miêu tả, bình luận khách quan về nhân vật và sự việc.
- Tạo sự linh hoạt trong việc chuyển đổi góc nhìn.
So với ngôi kể thứ nhất trong Chiếc mũ miện dát đá be-rơ, ngôi kể thứ ba giúp:
- Người đọc dễ dàng quan sát toàn bộ diễn biến câu chuyện.
- Tác giả dễ dàng xây dựng cốt truyện phức tạp hơn.
Trang 46 — Cách suy luận
Câu 1. [Trích dẫn nguyên văn từ SGK] “Tác giả giới thiệu phương pháp trừ danh của thám tử Hôm là tư duy phân tích đi đối với kiến thức sâu rộng về khám nghiệm hiện trường. Phương pháp ấy gồm bốn bước.”
Trả lời: Phương pháp trừ danh của thám tử Hôm bao gồm 4 bước:
- Luyện cho mình thành một nhà quan sát bạc thay về tiểu tiết: Quan sát kỹ những chi tiết nhỏ nhặt, vì từ đó có thể suy ra những kết luận quan trọng.
- Đưa ra một số giả thiết về nguyên nhân dẫn tới các chi tiết bạn đã quan sát được: Dựa trên các chi tiết đã quan sát, đưa ra các giả thiết có thể xảy ra.
- Không có nội dung cụ thể trong trang.
- Không có nội dung cụ thể trong trang.
Câu 2. [Trích dẫn nguyên văn từ SGK]
- Chi tiết:
- “Chiếc đồng hồ bằng vàng và là một vật đắt tiền.
- Ít nhất nó đã năm mươi năm tuổi.
- Có hai chữ cái H.W được khắc ở mặt sau.
- Có bốn hàng chữ số khắc bên trong vỏ đồng hồ, một cách đánh dấu thường thấy của các tiệm cầm đồ đương thời.
- Chiếc đồng hồ dây vết trầy xước và vết lõm.
- Có những vết xước rất sâu quanh lỗ khóa dùng để lên dây đồng hồ.”
Trả lời: Những chi tiết trên cho thấy:
- Đồng hồ có giá trị cao, là của cải đáng kể.
- Đồng hồ có lịch sử lâu đời, ít nhất 50 năm tuổi.
- Có dấu hiệu của chủ sở hữu trước đó (H.W).
- Có dấu vết sử dụng lâu dài và có thể đã qua nhiều người.
Câu 3. [Trích dẫn nguyên văn từ SGK]
- Giả thiết:
- “Hai chữ H. W có thể có nghĩa là chiếc đồng hồ từng thuộc về một người bà con của bác sĩ Oát- xơn, hoặc thuộc về một người ngoài họ cũng tình cờ bắt đầu bằng W.”
Trả lời: Các giả thiết có thể:
- Hai chữ H.W là tên của người chủ cũ, có quan hệ họ hàng với bác sĩ Oát-xơn.
- Hai chữ H.W là tên viết tắt của một người không quen biết.
Câu 4. [Trích dẫn nguyên văn từ SGK]
- Giải thích:
- “Các vết xước và vết lõm có thể được lí giải là do người chủ cũ bất cẩn thường để chung nó với chìa khóa và tiền xu, hoặc mang nó ra chiến trường, hoặc để cho động vật nhai nó.”
Trả lời: Những vết xước và vết lõm trên đồng hồ có thể xuất phát từ:
- Sự bất cẩn của chủ sở hữu, để đồng hồ cùng với chìa khóa và tiền.
- Mang đồng hồ vào chiến trường, nơi dễ bị va đập.
- Động vật cắn nhai.
Trang 47 — Để trở thành Sherlock Holmes – Những phương pháp và kĩ năng khám phá
Câu hỏi:
3. Loại trừ những nguyên nhân ít khả năng xảy ra nhất. Cố gắng đừng đoán – theo lời khuyên của Hôm, “đó là một thói quen cực kì tai hại đối với ngành suy luận logic”, - mà thay vì thế hãy dùng lưỡi dao của Ốt-khem (Occam)1, một phương pháp đã chứng minh rằng những cách giải thích đơn giản nhất thường là chính xác nhất. Bằng cách đó, chúng ta có thể loại bỏ các giả thiết rằng người chủ cũ của chiếc đồng hồ không có họ hàng với bác sĩ Oát-sân, mang chiếc hồ ra chiến trường, hoặc bị mù. Phương pháp này không bảo đảm là luôn luôn cho ra những kết quả chính xác - ngay cả Hôm cũng phải thừa nhận rằng các suy đoán của ông chỉ dựa trên “sự tương quan giữa các giả thiết” - nhưng với một chút may mắn và trực giác, bạn sẽ thấy những suy đoán may mắn của mình hầu hết là chính xác. Sau đây là những gì nhà thám tử đại tài suy ra được từ các quan sát của mình, dù có thể những người bình thường sẽ cảm thấy họ không thể sánh được với khả năng đặc biệt của ông:
- Từ tình trạng cũ kĩ của chiếc đồng hồ, ông suy đoán rằng bất cứ ai “đối xử với một chiếc đồng hồ 50 ghi-nê (guineas)2 theo cách tài tử như vậy hẳn phải là một người bất cấn. Cứng không khó để suy ra rằng người được thừa hưởng một món đồ có giá trị lớn như vậy sẽ khá là sung túc trong những mặt khác”.
- Hai chữ khắc H. W nhiều khả năng liên quan đến họ của Oát-sân. Hôm lí luận rằng, từ việc chiếc đồng hồ đã năm mươi năm tuổi, có thể nó thuộc về cha của Oát-sân, và vì những món trang sức tuỳ thân thường được truyền lại cho người con cả, nên nó đã được để lại cho anh trai của Oát-sân.
- Dấu hiệu của tiện cầm đồ cho thấy chủ nhân của nó thường bị túng thiếu, và sau khi đem cầm chiếc đồng hồ nhiều lần, một “cứ phát lên chút lát” đã cho phép anh ta lấy lại được nó nhất là ba lần.
- Các vết xước quanh lỗ khoá rỗ răng là vết đinh khóa để lại khi bị tra trượt vào lỗ. “Có người đàn ông tính táo nào lại có thể gây ra những vết xước như vậy?” Hôm khẳng định.
Trả lời:
3. Loại trừ những nguyên nhân ít khả năng xảy ra nhất là một bước quan trọng trong suy luận logic. Hôm đã đưa ra lời khuyên:
- “đó là một thói quen cực kì tai hại đối với ngành suy luận logic”,
- thay vì thế hãy dùng lưỡi dao của Ốt-khem (Occam), một phương pháp đã chứng minh rằng những cách giải thích đơn giản nhất thường là chính xác nhất.
Bằng cách loại bỏ các giả thiết không cần thiết, Hôm đã suy luận:
- Từ tình trạng cũ kĩ của chiếc đồng hồ:
- “Bất cứ ai đối xử với một chiếc đồng hồ 50 ghi-nê (guineas) theo cách tài tử như vậy hẳn phải là một người bất cấn.
- Cứ như vậy thì người được thừa hưởng một món đồ có giá trị lớn như vậy sẽ khá là sung túc trong những mặt khác”.
- Hai chữ khắc H. W:
- “nhiều khả năng liên quan đến họ của Oát-sân”.
- Hôm lí luận rằng, từ việc chiếc đồng hồ đã năm mươi năm tuổi, có thể nó thuộc về cha của Oát-sân,
- và vì những món trang sức tuỳ thân thường được truyền lại cho người con cả, nên nó đã được để lại cho anh trai của Oát-sân.
- Dấu hiệu của tiện cầm đồ:
- “chủ nhân của nó thường bị túng thiếu,
- và sau khi đem cầm chiếc đồng hồ nhiều lần, một “cứ phát lên chút lát” đã cho phép anh ta lấy lại được nó nhất là ba lần”.
- Các vết xước quanh lỗ khoá:
- “rỗ răng là vết đinh khóa để lại khi bị tra trượt vào lỗ.
- Có người đàn ông tính táo nào lại có thể gây ra những vết xước như vậy?”
- Từ tình trạng cũ kĩ của chiếc đồng hồ:
4. Tổng hợp các suy luận của bạn thành một câu chuyện có thể giải thích cho mọi chi tiết. Từ tất cả những suy luận trên, Hôm dệt nên một bản miêu tả như sau: Anh trai của Oát-sân “là một người có những thói quen cầu tha – rất cầu tha và bất cần. Anh ta được thừa hưởng món gia sản lớn, nhưng đã bỏ phí các cơ hội của mình, sống một thời gian trong nghèo túng với những đợt phát lên ngắn ngủi, và cuối cùng, sa vào bia rượu, anh ta qua đời”. Oát-sân sau đó đã phải kinh ngạc thừa nhận rằng các phân tích của Hôm “chính xác tuyệt đối tới từng chi tiết”. Liệu Hôm có may mắn không? Ở một số phương diện thì có – nhưng những phương pháp tư duy phân tích được áp dụng hiệu quả đã giúp ông đi tới sự thật.
Trả lời:
4. Tổng hợp các suy luận:
Hôm đã xây dựng một câu chuyện hoàn chỉnh dựa trên các chi tiết và suy luận của mình:
- Anh trai của Oát-sân là một người có những thói quen cầu tha – rất cầu tha và bất cần.
- Anh ta được thừa hưởng món gia sản lớn, nhưng đã bỏ phí các cơ hội của mình,
- sống một thời gian trong nghèo túng với những đợt phát lên ngắn ngủi,
- và cuối cùng, sa vào bia rượu, **qua đời”.
Oát-sân đã kinh ngạc và thừa nhận rằng các phân tích của Hôm
- “chính xác tuyệt đối tới từng chi tiết”.
Thành công của Hôm không chỉ đến từ may mắn,
- mà còn từ những phương pháp tư duy phân tích mà ông đã áp dụng một cách hiệu quả, giúp ông đi tới sự thật.
Trang 46 — Thực hành tiếng Việt
Câu 1. Chỉ ra câu rút gọn trong đoạn trích dưới đây. Khôi phục lại các thành phần bị rút gọn và cho biết tác dụng của việc sử dụng loại câu này.
Khiết:- (cởi áo) Phải nhanh lên mới được. Câu giúp tôi một tay. Cái áo rộng quá... Chị đưa tôi cái khăn quàng... và cái mũ trùm đầu... Thôi, thế là được rồi... Chị trông có giống không?
Trả lời:
- Câu rút gọn: "Phải nhanh lên mới được.", "Cái áo rộng quá...", "Thôi, thế là được rồi..."
- Khôi phục:
- "Phải nhanh lên mới được." → "Tôi phải nhanh lên mới được."
- "Cái áo rộng quá." → "Cái áo này rộng quá."
- "Thôi, thế là được rồi." → "Thôi, thế là xong rồi."
- Tác dụng:
- Làm cho câu văn ngắn gọn, tiết kiệm từ ngữ.
- Tăng tốc độ giao tiếp, diễn đạt ý nhanh chóng.
- Tạo sự gần gũi, thân mật trongđối thoại.
Câu 2. Xác định câu đặc biệt trong các trường hợp sau và nêu tác dụng của loại câu này trong mỗi trường hợp:
a. Ớ, Chúa ơi! Tôi thất là một lão ngốc mù quáng!
b. Có tiếng gì trong cái hòm này... như tiếng thở ấy... Eo ơi!
c. Tôi sẽ là người thừa, tôi sẽ được lấy người tôi yêu! A! Anh Khiêt ơi!
Trả lời: a. Câu đặc biệt: "Ớ, Chúa ơi!"
- Tác dụng: Bày tỏ cảm xúc (sốt ruột, kêu gọi).
b. Câu đặc biệt: "Eo ơi!"
- Tác dụng: Bày tỏ cảm xúc (ngạc nhiên, sợ hãi).
c. Câu đặc biệt: "A! Anh Khiêt ơi!"
- Tác dụng: Bày tỏ cảm xúc (kêu gọi, nhấn mạnh).
Câu 3. Tìm câu rút gọn và câu đặc biệt có trong các trường hợp sau. Chỉ ra dấu hiệu để phân biệt hai loại câu này.
a. "... Cháu gái tôi, con bé Me-ry, nó đã bảo tôi mà đi". "Bỏ rơi ông?"
b. Lý:- (ngã xuống như là ngất đi) Chao ơi! Khiêt:- Cháu đỡ lấy nó. Và để thường công cho thị Lý, vì thị đã chăm nom, nàng đỡ tôi, tôi để lại cho thị...
Trả lời: a.
- Câu rút gọn: "Bỏ rơi ông?" (rút gọn chủ ngữ).
- Câu đặc biệt: Không có.
- Dấu hiệu:
- Câu rút gọn thường thiếu một hoặc nhiều thành phần nhưng vẫn diễn đạt rõ nghĩa.
- Câu đặc biệt thường chỉ gồm một từ hoặc một cụm từ biểu cảm.
b.
- Câu rút gọn: Không có.
- Câu đặc biệt: "Chao ơi!"
- Dấu hiệu:
- Câu đặc biệt thường chỉ gồm một từ hoặc một cụm từ biểu cảm.