Trang 43 — Ba viên ngọc bích
Câu hỏi:
- Nhưng tại sao anh biết thế?
- Thôi, bây giờ thì tôi hiểu lắm rồi. Anh Tham Lượng đạp vợ xe về nhà, rồi mở két thay chuỗi hột giả vào đấy, rồi vội đi nên không kịp khóa két lại nữa. Xong đâu đấy, anh xuống luôn xóm dưới, trao chuỗi hột thực cho Phụng rồi đến Nhà hát Lớn. Thắng xe tình cờ thấy kết mõ, lấy luôn chuỗi hột giả kia.
Trả lời:
- Nhưng tại sao anh biết thế?
Trả lời: Tôi biết vì tôi thấy trong vụ trộm này có nhiều điều trái ngược nhau lắm. Ví dụ như việc về nhà bồ thư. Tôi ngờ vực nên thử lại xem hôm qua tôi đã nhận thấy rõ rằng: Nếu người ta đi xe máy về nhà, như anh đi hôm qua thì một lượt xe mất những 9 phút, hai lần đi về mất 18 phút, không kể còn rẽ vào bồ thư, còn thuê xe, còn gọi cửa ở nhà. Nghĩa là ít nhất cũng phải mất 25 phút, hay hơn thế nữa. Vậy mà Lượng về nhà chỉ mất có 15, 16 phút thôi. Chẳng lẽ chạy, mà chạy cũng chẳng nhanh hơn xe kéo là máy, do đó, tôi biết Lượng chỉ có một cách là thuê xe đạp, tôi sức nhớ ngay đến hiệu xe đạp ở cạnh nhà hát. Cũng như anh đã biết tôi thuê xe, lại giở số tìm ngày hôm thứ Bảy, quả nhiên có chữ anh Lượng viết thuê xe lúc 10 giờ rưỡi.
- Thôi, bây giờ thì tôi hiểu lắm rồi. Anh Tham Lượng đạp vợ xe về nhà, rồi mở két thay chuỗi hột giả vào đấy, rồi vội đi nên không kịp khóa két lại nữa. Xong đâu đấy, anh xuống luôn xóm dưới, trao chuỗi hột thực cho Phụng rồi đến Nhà hát Lớn. Thắng xe tình cờ thấy kết mõ, lấy luôn chuỗi hột giả kia.
Trả lời:
- Đã đoán ra được nên tôi chỉ còn có việc thử lại xem có đúng không thì quả nhiên đi bằng xe đạp, tôi cũng mất vừa đúng hết 17 phút, cái thời gian mà Lượng đã vắng mặt tại Nhà hát Lớn rồi trở lại sau khi mở màn diễn tiếp hội sau. Vậy tôi chỉ còn có một việc rất dễ dàng là trả lại cho chị Tham Lượng chuỗi hột thực, chuỗi hột mà đêm qua tôi đã tráo lại của đào Phụng!
Trang 46 — Hồn thơ muôn điệu
Câu hỏi:
Giới thiệu bài học:
- Thơ ca là bản hòa âm cất lên từ những rung động tâm hồn của nhà thơ trước thiên nhiên và cuộc sống. Ngôn ngữ thơ ca đặc biệt giàu nhạc tính, có thể diễn tả mọi cung bậc cảm xúc, mọi tình cảm của con người. Vì thế, thơ là cây đàn ngân lên muôn điệu của tâm hồn.
- Hai bài thơ và một văn bản nghị luận văn học trong bài học này sẽ giúp em cảm nhận và hiểu về muôn điệu tâm hồn trong thơ ca, từ đó biết rung động cùng vẻ đẹp mà nhà thơ đã diển tả trong mỗi vần thơ.
Yêu cầu cần đạt:
- Nhận biết và phân tích được nét độc đáo về hình thức của bài thơ thể hiện qua bố cục, kết cấu, ngôn ngữ, biện pháp tu từ.
- Nhận biết và phân tích được tình cảm, cảm xúc, cảm hứng chủ đạo của người viết thể hiện qua văn bản.
- Nhận biết và phân tích được chủ đề, tư tưởng, thông điệp mà văn bản muốn gửi đến người đọc thông qua hình thức nghệ thuật của văn bản; phân tích được một số căn cứ để xác định chủ đề.
- Hiểu được sự phát triển của ngôn ngữ thể hiện qua những nghĩa mới của từ ngữ và từ ngữ mới; biết vận dụng để trau dồi vốn từ.
- Bước đầu biết làm một bài thơ tám chữ; viết được đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ tám chữ.
- Biết thảo luận về một vấn đề đáng quan tâm trong đời sống phù hợp với lứa tuổi.
- Có tình yêu đối với thơ ca và vẻ đẹp của con người, cuộc sống được thể hiện trong thơ.
Trang 44 — Bài 7
Câu hỏi/Yêu cầu trong trang:
Giới thiệu bài học
- Giới thiệu bài học:
- Thơ ca là bản hòa âm cất lên từ những rung động tâm hồn của nhà thơ trước thiên nhiên và cuộc sống. Ngôn ngữ thơ ca đặc biệt giàu nhạc tính, có thể diễn tả mọi cung bậc cảm xúc, mọi tình cảm của con người. Vì thế, thơ là cây đàn ngân "lên muôn điệu của tâm hồn".
- Hai bài thơ và một văn bản nghị luận văn học trong bài học này sẽ giúp em cảm nhận và hiểu về muôn điệu tâm hồn trong thơ ca, từ đó biết rung động cùng vẻ đẹp mà nhà thơ đã diển tả trong mỗi vần thơ.
Yêu cầu cần đạt
- Yêu cầu cần đạt:
- Nhận biết và phân tích được nét độc đáo về hình thức của bài thơ thể hiện qua bố cục, kết cấu, ngôn ngữ, biện pháp tu từ.
- Nhận biết và phân tích được tình cảm, cảm xúc, cảm hứng chủ đạo của người viết thể hiện qua văn bản.
- Nhận biết và phân tích được chủ đề, tư tưởng, thông điệp mà văn bản muốn gửi đến người đọc thông qua hình thức nghệ thuật của văn bản; phân tích được một số căn cứ để xác định chủ đề.
- Hiểu được sự phát triển của ngôn ngữ thể hiện qua những nghĩa mới của từ ngữ và từ ngữ mới; biết vận dụng để trau dồi vốn từ.
- Bước đầu biết làm một bài thơ tám chữ; viết được đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ tám chữ.
- Biết thảo luận về một vấn đề đáng quan tâm trong đời sống phù hợp với lứa tuổi.
- Có tình yêu đối với thơ ca và vẻ đẹp của con người, cuộc sống được thể hiện trong thơ.
Trang 45 — TRI THỨC NGỮ VĂN
Câu 1. Thơ sáu chữ, bảy chữ, tám chữ là những thể thơ được xác định dựa vào số chữ (tiếng) trong mỗi dòng thơ. Các dòng thơ thường được ngắt nhịp một cách linh hoạt.
Trả lời:
- Thể thơ sáu chữ, bảy chữ, tám chữ là các thể thơ có số chữ trong mỗi dòng được xác định rõ ràng.
- Các dòng thơ trong thể thơ này thường được ngắt nhịp linh hoạt, không bị gò bó bởi một quy tắc nhất định, tạo ra sự tự do trong cách thể hiện cảm xúc và ý tưởng.
Câu 2. Bài thơ sáu chữ, bảy chữ, tám chữ có số lượng dòng không hạn chế; có thể chia khổ hoặc không; thường sử dụng vần chân, gieo vần liên hoặc vần cách.
Trả lời:
- Bài thơ với các thể thơ sáu chữ, bảy chữ, tám chữ không bị giới hạn về số lượng dòng.
- Các dòng có thể được chia thành khổ hoặc không chia, tùy thuộc vào ý đồ của người viết.
- Thường sử dụng các loại vần như: vần chân (vần được gieo ở cuối dòng thơ), vần liên (vần được lặp liên tiếp ở các dòng thơ), hoặc vần cách (vần không liên tiếp mà cách ra một hoặc nhiều dòng).
Câu 3. Kết cấu là toàn bộ cách tổ chức, sắp xếp, liên kết các yếu tố tạo nên tác phẩm nghệ thuật. Trong thơ, đó là cách tổ chức, sắp xếp, liên kết mạch cảm xúc, thế giới hình tượng và các phương tiện ngôn ngữ được dùng để biểu đạt.
Trả lời:
- Kết cấu của một tác phẩm nghệ thuật là cách mà các yếu tố được tổ chức và sắp xếp để tạo nên một chỉnh thể hoàn chỉnh.
- Trong thơ, kết cấu bao gồm cách tổ chức mạch cảm xúc, xây dựng hình ảnh và sử dụng ngôn ngữ để truyền tải ý nghĩa.
Câu 4. Một số căn cứ để xác định chủ đề của tác phẩm văn học thường được người đọc tự rút ra từ toàn bộ nội dung của tác phẩm. Tuy vậy, trong nhiều trường hợp, một số yếu tố nổi bật của tác phẩm có thể là căn cứ quan trọng để xác định chủ đề:
- Nhan đề có thể hé lộ cho người đọc phần nào chủ đề của tác phẩm.
- Một số yếu tố khác gắn với đặc trưng thể loại có thể giúp người đọc nắm được chủ đề của tác phẩm, chẳng hạn, với thơ: mạch cảm xúc, hình ảnh,...; với truyện, kịch: nhân vật, sự kiện, xung đột,.. đôi khi là lời phát biểu trực tiếp của nhân vật hay lời người kể chuyện.
Trả lời:
- Chủ đề của một tác phẩm văn học thường được người đọc rút ra từ toàn bộ nội dung.
- Một số yếu tố có thể giúp xác định chủ đề bao gồm:
- Nhan đề: Gợi ý về chủ đề.
- Đặc trưng thể loại:
- Thơ: mạch cảm xúc, hình ảnh.
- Truyện, kịch: nhân vật, sự kiện, xung đột.
- Đôi khi, lời phát biểu trực tiếp của nhân vật hoặc người kể chuyện cũng giúp làm rõ chủ đề.
Câu 5. Sự phát triển của ngôn ngữ: nghĩa mới của từ ngữ và từ ngữ mới
Trả lời:
- Từ vựng của một ngôn ngữ luôn vận động và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội.
- Sự phát triển của từ vựng thường diễn ra theo các hình thức:
- Phát triển nghĩa của từ ngữ trên cơ sở nghĩa gốc của nó.
- Sáng tạo từ ngữ mới trên cơ sở từ ngữ đã có.
- Tiếp nhận từ ngữ tiếng nước ngoài.
VĂN BẢN ĐỌC
VĂN BẢN 1. Tiếng Việt, Lưu Quang Vũ
VĂN BẢN 2. Mùa xuân, Nguyễn Bỉnh
VĂN BẢN 3. Một kiểu phát biểu luận đề độc đáo của Xuân Diệu ở bài thơ “Vội vàng”, Phan Huy Dũng
Trang 46 — Tiếng Việt
Câu 1. Giới thiệu trước lớp một số câu ca dao, tục ngữ hay bài thơ nói về tiếng mẹ đẻ mà em đã sưu tầm được.
Trả lời: Một số câu ca dao, tục ngữ hay bài thơ nói về tiếng mẹ đẻ mà em đã sưu tầm được:
Ca dao:
- "Tiếng mẹ đẻ ơi! Ngọt ngào, yêu thương"
- "Tiếng mẹ đẻ, nguồn cội"
Tục ngữ:
- "Tiếng nói là của cha ông, đừng để mai một"
Bài thơ:
- "Tiếng Việt" của Lưu Quang Vũ (đã được in trong SGK)
Những câu ca dao, tục ngữ và bài thơ này đều thể hiện sự trân trọng và yêu quý đối với tiếng mẹ đẻ.
Câu 2. Nghe bài hát Tiếng Việt (nhạc Lê Tâm, lời thơ Lưu Quang Vũ) và nêu cảm nhận về tình cảm của người nghệ sĩ đối với tiếng nói dân tộc.
Trả lời: Bài hát Tiếng Việt (nhạc Lê Tâm, lời thơ Lưu Quang Vũ) thể hiện tình cảm yêu quý, trân trọng sâu sắc của người nghệ sĩ đối với tiếng nói dân tộc. Lời bài hát đưa người nghe đến với những hình ảnh bình dị, gần gũi của cuộc sống đời thường, từ đó làm nổi bật lên giá trị thiêng liêng của tiếng mẹ đẻ.
Theo dõi
Số tiếng trong mỗi dòng, vần và nhịp thơ.
Trả lời:
Số tiếng trong mỗi dòng: Thơ có nhiều số tiếng khác nhau trong mỗi dòng.
Vần:
- Vần "sầm" trong tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sầm
- Vần "về" trong cảnh đồng xa cỏ trắng rủ nhau về
- Vần "trẻ" trong nghe xạc xào gió thổi giữa cau trẻ
- Vần "nắng" trong tiếng kéo gò nhọc nhằn trên bãi nắng
- Vần "khuya" trong tiếng gọi đồi sông vắng bên lau khuya
- Vần "trắng" trong tiếng lụa xé đau lòng thợ dệt trắng
- Vần "đề" trong tiếng đập đồn nước lũ xoáy chân đê
- Vần "lửa" trong tiếng cha dặn khi vun cảnh nhóm lửa
- Vần "nổi" trong khi hun thuyền gieo mạ lúc đura nổi
- Vần "cỏ" trong tiếng mưa dội ào ào trên mái cỏ
- Vần "trời" trong non ai xa thăm thẳm ở bên trời
Nhịp thơ: 6/8 hoặc biến thể.
Hình dung
Những hình ảnh, âm thanh cuộc sống mà tiếng nói của con người đã hòa quyện trong đó.
Trả lời: Những hình ảnh và âm thanh cuộc sống mà tiếng nói của con người đã hòa quyện trong đó:
Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sầm
Cảnh đồng xa cỏ trắng rủ nhau về
Có con nghé trên lưng bụn ướt đẫm
Nghe xạc xào gió thổi giữa cau trẻ
Tiếng kéo gò nhọc nhằn trên bãi nắng
Tiếng gọi đồi sông vắng bên lau khuya
Tiếng lụa xé đau lòng thợ dệt trắng
Tiếng đập đồn nước lũ xoáy chân đê
Tiếng cha dặn khi vun cảnh nhóm lửa
Khi hun thuyền gieo mạ lúc đura nổi
Tiếng mưa dội ào ào trên mái cỏ
Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời
“Đá cheo leo trâu trèo trâu trượt...”
Đi mòn đường dốc cỏ đợi người thương
Đầy muối mặn gừng cay lòng khế xót
Ta như chim trong tiếng Việt như rừng
Những hình ảnh và âm thanh này tạo nên một bức tranh sinh động về cuộc sống nông thôn, nơi tiếng nói gắn liền với từng hoạt động, cảm xúc của con người.