Trang 5 — Đặc điểm văn học trung đại - Những vấn đề văn xuôi tự sự
Câu 1. Thế nào là biến đổi và mở rộng cấu trúc câu?
Trả lời: Biến đổi và mở rộng cấu trúc câu là các phương pháp nhằm làm phong phú và đa dạng hóa cấu trúc câu trong tiếng Việt, giúp cho cách diễn đạt trở nên linh hoạt và sinh động hơn.
Biến đổi cấu trúc câu: là thay đổi kiểu cấu tạo câu mà không làm thay đổi cơ bản nghĩa của câu. Sự biến đổi cấu trúc của câu thường nhằm mục đích nhấn mạnh ý, tăng cường sự liên kết câu hoặc làm cho cách diễn đạt phong phú, sinh động hơn. Các kiểu biến đổi cấu trúc câu thường gặp là:
- Thay đổi trật tự các thành phần trong câu. Ví dụ: "Hạ Long vào buổi sớm mùa xuân thật huyền ảo. Giữa màn sương bạc mông lung, nhô lên thấp thoáng những đỉnh đảo xanh đen, bóng bồng bềnh, lúc ẩn lúc hiện." (Thi Sảnh).
- Biến đổi câu chủ động (câu có chủ ngữ chỉ chủ thể của hoạt động tác động vào đối tượng) thành câu bị động (câu có chủ ngữ chỉ đối tượng của hoạt động). Ví dụ:
- "Chất đã hát chiếc lò thủy tinh đã vỡ trên bàn xuống." (Trần Đức Tiến) "Chiếc lò thủy tinh đã bị Chất hát đổ vỡ trên bàn xuống."
Mở rộng cấu trúc câu: là thêm các thành phần phụ, thành phần biệt lập cho câu hoặc mở rộng các thành phần câu nhằm biểu thị rõ ràng, chính xác nội dung cần diễn đạt hoặc thể hiện các sắc thái tình cảm, sự đánh giá của người nói (người viết) đối với sự vật, sự việc được nói đến trong câu. Ví dụ, trong câu "Mùa đông, giữa ngày mùa, làng quê toàn màu vàng." (Tô Hoài), trạng ngữ (in đậm) được thêm vào để nêu rõ bối cảnh (thời gian) của đặc điểm (toàn màu vàng) mà tác giả miêu tả ở vị ngữ.
Trang 6 — Chuyện người con gái Nam Xương
Câu 1. Chuẩn bị
- Xem lại phần Kiến thức văn để vận dụng vào đọc hiểu văn bản này.
- Khi đọc hiểu văn bản truyện truyền kì, bên cạnh các yêu cầu chung về đọc hiểu văn bản truyện theo đặc trưng thể loại, các em cần chú ý thêm những yếu tố sau:
- Phát hiện và đánh giá ý nghĩa, tác dụng của các yếu tố kì lạ, kì ảo (nhân vật thần, tiên, ma quỉ; cõi tiên, địa ngục, thủy cung,...).
- Phân tích mối quan hệ giữa yếu tố thực và yếu tố kì lạ, kì ảo trong văn bản, qua đó, tìm hiểu, xác định quan điểm, thái độ của người viết.
- Suy nghĩ về những vấn đề có ý nghĩa nhân sinh mà truyện đặt ra và liên hệ với cuộc sống ngày nay.
- Tìm hiểu thêm thông tin về tác giả Nguyễn Dữ và tập truyện Truyền kì mạn lục.
- Đọc toàn bộ văn bản và ghi lại những cảm nhận hoặc ấn tượng đầu tiên của em.
Trả lời:
- Học sinh cần thực hiện theo các yêu cầu trên để chuẩn bị tốt cho việc đọc hiểu văn bản.
Câu 2. Đọc hiểu
(1) Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính đã thuỳ mị, nết na, lại thêm tứ dung tốt đẹp. Trong làng có chàng Trương Sinh, mến vì dung hạnh, xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Song Trương có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức. Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hoà. Cuộc sống vầy chưa được bao lâu thì xảy ra việc triều đình bắt lính đi đánh giặc. Trương tuy con nhà hào phú nhưng không có học, nên tên phải ghi trong sổ lính đi vào loại đầu. [...]
Nhân vật Vũ Thị Thiết và Trương Sinh được giới thiệu thế nào?
Trả lời:
- Vũ Thị Thiết:
- Là người con gái quê ở Nam Xương.
- Có tính cách: "thuỳ mị, nết na" và có "tứ dung" tốt đẹp.
- Trương Sinh:
- Mến dung hạnh của Vũ Thị Thiết.
- Có gia cảnh hào phú, nhưng không có học.
- Tính cách: đa nghi, luôn phòng ngừa quá sức với vợ.
Những chi tiết này giúp người đọc hiểu rõ hơn về nhân vật và tạo nền tảng cho diễn biến câu chuyện sau này.
Trang 7 — Vũ Thị Thiết
Câu hỏi:
- Vũ Thị Thiết muốn nhắn gửi điều gì với chồng qua lời đối thoại này?
Trả lời: Vũ Thị Thiết muốn nhắn gửi với chồng rằng nàng không dám mong cầu vinh hoa phú quý, chỉ mong có cuộc sống bình yên. Nàng lo lắng về những khó khăn của gia đình, việc quân giặc, và sự gian lao của việc chống giặc, mong chồng hãy vì gia đình mà tạm quên công danh.
Nàng nói:
"Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi."
Điều này thể hiện sự khiêm nhường, biết lo lắng và đặt gia đình lên trên hết của nàng.
Câu hỏi:
- Qua năm sau, giặc ngoan cố đã chịu trói, việc quân kết thúc. Trương Sinh về tới nhà, được biết mẹ đã qua đời, con vừa học nói. Chàng hỏi mỏ mẹ, rồi bế đứa con nhỏ đi thăm; đứa trẻ không chịu, ra đến cổng, nó quấy khóc. Sinh đỡ dành:
"- Nín đi con, đừng khóc. Cha về, bà đã mất, lòng cha buồn khổ lắm rồi."
Trả lời: Câu nói của Trương Sinh thể hiện sự đau xót và cố gắng kiềm nén cảm xúc của mình khi mất mẹ. Chàng cảm thấy rất đau buồn nhưng vẫn cố gắng trấn an con nhỏ, không muốn con tiếp tục khóc quấy.
Trích dẫn:
"- Nín đi con, đừng khóc. Cha về, bà đã mất, lòng cha buồn khổ lắm rồi."
Điều này cho thấy Trương Sinh là một người cha yêu thương con và cũng rất mực trân trọng gia đình.
Trang 8 — Nguyễn Đình Chiểu - Vợ nhàn
Câu hỏi:
- Tình huống bất ngờ nào xuất hiện?
- Vũ Thị Thiết đã có những lời nói nào khi bị chồng lứa bình?
Trả lời:
Tình huống bất ngờ xuất hiện là khi đứa con nhỏ của Vũ Thị Thiết bất ngờ hỏi về người đàn ông lạ mặt:
- "Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít."
Khi bị chồng lứa bình, Vũ Thị Thiết đã có những lời nói:
- "Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thoả tình chăn gối, chia phôi vì động việc lứa bình. Cách biệt ba năm giữ gin một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguồn lòng, ngỡ liêu tưởng hoa chưa hề bén gốc. Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói. Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp."
Nàng còn nói:
- "Kể bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chống con rảy bò, điệu đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thân sống có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trình bạch gin lông, vào nước xin làm ngọc Mỹ Nương, xuống đất xin làm Cô Ngu mi. Nhược bằng lông chim dạ cá, lừa chống đối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cỏ điều quạ và xin chịu khát mọi người phi nghĩa."