Trang 61 — Di tích cố đô Huế

Câu hỏi:

  • Các di sản nêu trong phần Kiến trúc này nói lên điều gì?

Trả lời: Các di sản nêu trong phần Kiến trúc này nói lên giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc độc đáo của cố đô Huế. Những công trình kiến trúc như Ngọ Môn, Điện Thái Hòa, Lăng tẩm của các vua Nguyễn, Đàn Nam Giao, Văn Miếu, và Hồ Quyền không chỉ phản ánh sự giàu có và quyền lực của triều đình nhà Nguyễn mà còn thể hiện tinh thần nghệ thuật, sự khéo léo và tài hoa của người Việt Nam trong việc xây dựng và trang trí các công trình kiến trúc này.


Câu hỏi:

  • Di tích Cổ đô Huế gồm những giá trị gì?

Trả lời: Di tích Cổ đô Huế gồm những giá trị:

  • Gần một thế kỷ rưỡi là kinh đô của một triều đại phong kiến với thiết chế chính trị dựa trên nền tảng Nho giáo, từng là thủ phủ của Phật giáo một thời, bên cạnh những kiến trúc cung đình lộng lẫy vàng son, Huế còn lưu giữ

Trang 62 — Cùng nhà văn Tô Hoài ngắm phố phường Hà Nội

Câu 1. Xác định bố cục của bài viết. Trình bày bố cục ấy bằng một sơ đồ tư duy.

Trả lời: Bố cục của bài viết có thể được trình bày như sau:

  • Phần 1: Giới thiệu về di tích Cổ đô Huế và tầm quan trọng của nó.
  • Phần 2: Nêu rõ giá trị của di tích Cổ đô Huế.
  • Phần 3: Kết luận, nhấn mạnh vai trò của di tích.

Sơ đồ tư duy:

- Giới thiệu di tích Cổ đô Huế
  - Tầm quan trọng
  - Giá trị văn hóa, lịch sử
- Giá trị di tích
  - Giá trị văn hóa
  - Giá trị lịch sử
- Kết luận
  - Vai trò

Câu 2. Bằng cách nào có thể tóm lược được nhanh nhất các thông tin trong văn bản Quản thể di tích Cổ đô Huế? Cách triển khai thông tin trong bài viết có tác dụng gì?

Trả lời: Có thể tóm lược nhanh nhất các thông tin trong văn bản Quản thể di tích Cổ đô Huế bằng cách:

  • Xác định câu chủ đề: "Với một khối lượng di sản văn hóa vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc túy của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hóa độc đáo của Việt Nam và thế giới."
  • Rút gọn thông tin chính:
    • Vai trò của Huế.
    • Giá trị văn hóa, lịch sử.

Cách triển khai thông tin trong bài viết giúp người đọc dễ dàng hiểu rõ vai trò và giá trị của di tích Cổ đô Huế, từ đó nâng cao ý thức bảo tồn và phát huy di sản.

Câu 3. Vì sao văn bản Quản thể di tích Cổ đô Huế được coi là văn bản thông tin? Trong văn bản này có sự kết hợp của những phương thức biểu đạt nào? Chỉ ra tác dụng của sự kết hợp ấy.

Trả lời: Văn bản Quản thể di tích Cổ đô Huế được coi là văn bản thông tin vì:

  • Nội dung cung cấp thông tin về di tích Cổ đô Huế.
  • Có số liệu, trích dẫn cụ thể: "Quyết định số 1272/QĐ-TTg", "ngày 12-8-2009".

Phương thức biểu đạt:

  • Thuyết minh: Cung cấp thông tin về giá trị di tích.
  • Miêu tả: "hàng trăm ngôi chùa thâm nghiêm cổ kính, an lạc giữa những núi rừng hoang vu,"

Tác dụng của sự kết hợp:

  • Làm cho thông tin trở nên sinh động, hấp dẫn.
  • Giúp người đọc hình dung rõ hơn về di tích.

Câu 4. Phân tích những giá trị của di tích Cổ đô Huế được nêu trong văn bản.

Trả lời: Những giá trị của di tích Cổ đô Huế bao gồm:

  • Giá trị văn hóa:
    • "một hiện tượng văn hóa độc đáo của Việt Nam và thế giới."
    • "một mẫu mực về kiến trúc mà còn là một cao điểm về tinh thần và một trung tâm văn hóa sôi động."
  • Giá trị lịch sử:
    • "Quốc hồn quốc túy," "linh hồn và tinh hoa của dân tộc."
  • Giá trị tôn giáo, triết học và đạo lý:
    • "dao Phật và đạo Khổng đã thâm nhập, hòa nhuyễn vào truyền thống địa phương, nuôi dưỡng một tư tưởng tôn giáo, triết học và đạo lý hết sức độc đáo."

Câu 5. Đọc văn bản, em có thêm được những hiểu biết gì về Cổ đô Huế và còn muốn biết những thông tin nào về di tích lịch sử nổi tiếng này?

Trả lời: Em có thêm hiểu biết về:

  • Vai trò của Huế trong lịch sử và văn hóa Việt Nam.
  • Giá trị cụ thể về văn hóa, lịch sử và tôn giáo của Huế.

Em muốn biết thêm thông tin về:

  • Lịch sử hình thành và phát triển của di tích.
  • Các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích.

Câu 6. Nếu được giới thiệu một số nét về một di tích lịch sử của quê hương, em sẽ nêu những thông tin nào?

Trả lời: Nếu được giới thiệu về một di tích lịch sử của quê hương, em sẽ nêu:

  • Vị trí, lịch sử: Địa điểm, thời gian xây dựng, sự kiện lịch sử liên quan.
  • Đặc điểm kiến trúc: Mô tả kiến trúc, phong cách, vật liệu xây dựng.
  • Giá trị văn hóa, lịch sử: Vai trò trong lịch sử, giá trị văn hóa, ý nghĩa đối với cộng đồng.
  • Trạng thái hiện tại: Hiện trạng bảo tồn, các hoạt động liên quan.

Trang 63 — CÙNG NHÀ VĂN TÔ HOÀI NGẮM PHỐ PHƯƠNG HÀ NỘI

Câu 1. Đọc hiểu

Trả lời:

  • Học sinh đọc trước văn bản Cùng nhà văn Tô Hoài ngắm phố phương Hà Nội và tìm hiểu thêm những thông tin khác về Thủ đô Hà Nội để trao đổi với bạn bè trong lớp.
  • Tìm hiểu thông tin về người được phỏng vấn (nhà văn Tô Hoài) và người phỏng vấn (nhà thơ Trần Đăng Khoa).

Câu 2. Đọc hiểu

Trả lời:

  • Trần Đăng Khoa: "Thưa nhà văn Tô Hoài, có thể xem ông như một nhà Hà Nội học, mặc dù ông không nghiên cứu. Nhưng với một sự am hiểu khá thấu đáo, cận kề, qua con mắt của một nhân chứng, trong suốt gần một... thế kỷ nay, ông xem Hà Nội xưa thế nào?"
  • Nhà văn Tô Hoài: "Tôi không phải nhà Hà Nội học. Tôi hiểu Hà Nội thì cũng là hiểu một cách rất tự nhiên thôi. Tôi sinh ra ở Hà Nội. Hà Nội trước thế nào thì bây giờ tôi thấy nó cũng vẫn như thế..."

Trả lời:

  • Trần Đăng Khoa: "Nghĩa là không có gì đổi khác?"
  • Nhà văn Tô Hoài: "Đúng vậy. Trừ những khu mới mở, như đường Hoàng Quốc Việt chẳng hạn, còn các khu phố cũ vẫn thế. Nhà cửa có thể khác tí, có tân trang hơn hoặc nâng thêm tầng, nhưng đường phố vẫn vậy, nên phố phương về cơ bản vẫn không có gì thay đổi. Ngày xưa thế nào thì bây giờ vẫn thế. Tôi có thể nhắm mắt đi đến khu phố nào cũng được. Via hè vẫn là via hè cũ. Ở các phố Ngô Quyền, Hàng Bè, Khay, Tràng Tiền, Hang Bài, hay Nguyễn Xí, Đinh Lễ, đầu via hè còn bọc đá xanh. Đây là via hè xưa, via hè đầu của Hà Nội. Đá bọc via hè là đá lấy từ núi Thụy(1), núi Trầm(2). Lí do dùng đá ốp via hè thì cũng đơn giản thôi, vì đá ấy ta chưa có lắm xi măng. Đi trên đường phố Hà Nội, tôi thấy quen thuộc vô cùng. Cả hệ thống công ngầm bên dưới cũng thế, cũng là hệ thống cũ. Vì thế, bây giờ mưa, đường Hà Nội ngập ứng là tất nhiên, vì quá tải. Ta còn thấy những nắp cống tròn còn nguyên cái ống chữ Mác-xơ (Marseille). Đó là nắp cống dức từ bên Pháp rồi sang ban tại Hà Nội bây giờ, ở phố Quán Thánh, ngay cạnh đến Quán Thánh bây giờ, Pháp có mở Công ty Sa-crích (Sacric). Đây là Công ty Gạch ngói Đông Dương. Khu sản xuất khá rộng, đến mấy ngàn mét vuông. Đất sét đóng gạch lấy ở Quán La, bên kia Tây Hồ, rồi dùng thuyền chở sang. Thuyền bè bây giờ cũng tập nấp lắm."

Câu 3. Chi tiết nào cho thấy Tô Hoài rất thông hiểu Hà Nội?

Trả lời:

  • Các chi tiết cho thấy Tô Hoài rất thông hiểu Hà Nội:
    • "Tôi sinh ra ở Hà Nội. Hà Nội trước thế nào thì bây giờ tôi thấy nó cũng vẫn như thế..."
    • "Via hè vẫn là via hè cũ. Ở các phố Ngô Quyền, Hàng Bè, Khay, Tràng Tiền, Hang Bài, hay Nguyễn Xí, Đinh Lễ, đầu via hè còn bọc đá xanh. Đây là via hè xưa, via hè đầu của Hà Nội."
    • "Cả hệ thống công ngầm bên dưới cũng thế, cũng là hệ thống cũ."
    • "Ta còn thấy những nắp cống tròn còn nguyên cái ống chữ Mác-xơ (Marseille)."

Câu 4. Chỉ ý nội dung của các câu hỏi.

Trả lời:

  • Câu hỏi 1: "Thưa nhà văn Tô Hoài, có thể xem ông như một nhà Hà Nội học, mặc dù ông không nghiên cứu. Nhưng với một sự am hiểu khá thấu đáo, cận kề, qua con mắt của một nhân chứng, trong suốt gần một... thế kỷ nay, ông xem Hà Nội xưa thế nào?"
    • Nội dung: Câu hỏi tập trung vào việc tìm hiểu cách nhà văn Tô Hoài nhìn nhận và mô tả Hà Nội trong quá khứ.
  • Câu hỏi 2: "Nghĩa là không có gì đổi khác?"
    • Nội dung: Câu hỏi nhấn mạnh vào sự thay đổi (hoặc không thay đổi) của Hà Nội qua thời gian.
  • Câu hỏi 3: "Ông thấy Hồ Tây thuở ấy thế nào?"
    • Nội dung: Câu hỏi xoay quanh việc nhà văn Tô Hoài miêu tả Hồ Tây trong quá khứ.

Trang 64 — Nhà văn Tô Hoài

Câu hỏi:

  • Nhà văn Tô Hoài: Địa giới Hà Nội xưa rất hẹp. Đi hết Trường Chu Văn An bây giờ đã là đất Hà Đông rồi. Làng Yên Phụ cũng thuộc đất Hà Đông. Người Pháp xưa đặt tên đường, tên phố rất rành rẽ. Phố là địa giới nằm trong khu vực nội thị, còn đường là nối với các tỉnh khác. Cuối đường là tỉnh khác rồi. Ví như đường Huế nối với Hà Đông, đường Hàng Bột, hay đường Bạch Mai cũng thế. Cuối đường là địa phận của tỉnh khác. Về mặt hành chính, Hà Nội được chia ra làm bốn khu. Khu phố cổ, bao gồm địa danh của 36 phố phường xưa, như Hàng Buồm, Hàng Bạc, Hàng Thiếc,... Rồi khu phố xây dựng từ thời Tây, có những biệt thự kiểu Tây, như phố Hàng Khay, Tràng Thi, Bùi Thị Xuân, Huyền Trân Công Chúa, Phan Đình Phùng, hai bên đường, có vĩa hè xây và trồng cây hai bên, cảnh là giao nhau, nối như ông Phạm Quỳnh, và dùng chữ Phạm Quỳnh thì đấy là “đường thông cù”. Đó là khu của những ông Tham, ông Phán hoặc dân nhà giàu... Khu phố mới, là khu phố được nói ra, xây dựng sau này. Còn khu thứ tư là khu dưới bãi [...]

Trả lời:

  • Địa giới Hà Nội xưa rất hẹp. Đi hết Trường Chu Văn An bây giờ đã là đất Hà Đông rồi. Làng Yên Phụ cũng thuộc đất Hà Đông.
  • “Đường thông cù”: Khu của những ông Tham, ông Phán hoặc dân nhà giàu.

Câu hỏi:

  • Trần Đăng Khoa: Chắc đó là vùng Nghi Tàm, Yên Phụ bây giờ?

Trả lời:

  • “Không, từ Yên Phụ trở lên Nghi Tàm xưa là đất trồng dầu, trồng ngô. Còn khu dưới bãi là vùng An Dương, Chương Dương bây giờ.”

Câu hỏi:

  • Trần Đăng Khoa: Ở Hà Nội, trong số 36 phố phường như ông nói, có những tên phố rất lạ: Hàng Đường, Hàng Quạt, Hàng Nón, Hàng Mắm, Hàng Thiếc, Hàng Thùng, Hàng Buồm, Hàng Trống,... Nghe cứ như tên các quán hàng. Có cảm giác Hà Nội là một cái chợ. Chắc ngày xưa mỗi khu phố là một nơi sản xuất và buôn bán các mặt hàng riêng biệt. Ví như Hàng Rươi bán rươi, Hàng Mắm bán... mắm chẳng hạn?

Trả lời:

  • “Không hẳn thế đâu. Có rất nhiều mặt hàng, người ta sản xuất ở quê, ở Hà Đông và các vùng phụ cận rồi đem ra bán ở Hà Nội. Như đồ gò đục đồng, rồi guốc dép, mũ nón. Trước đây, Hà Nội còn có phố Hàng Tiện và phố Hàng Dép nữa. Đó là hai phố nhỏ. Phố Hàng Tiện ở bên Hàng Gai trồng ở phía Bờ Hồ, phố Hàng Dép ở đầu đường Hàng Buồm. Hai phố này, năm 1945 bị phá hủy trong những cuộc đánh nhau với Pháp, rồi cũng từ đấy bị mất phố luôn.”

Câu hỏi:

  • Trần Đăng Khoa: Nếu cần nói thật ngắn gọn về tính cách người Hà Nội thì ông sẽ nói thế nào? Thanh lịch hào hoa chăng? Ca dao xưa: “Chẳng thơm cũng thế hoa nhài / Chẳng thanh lịch cũng là người Tràng An.”

Trả lời:

  • Hà Nội do dân từ phương lập nên. Người Hà Nội gốc có lẽ chỉ là mấy anh đánh cá ở sông Tô Lịch. Chẳng có ai sống ở Hà Nội được đến mười đời.